Pages

Showing posts with label Lớp 4. Show all posts
Showing posts with label Lớp 4. Show all posts

3/24/2014

Đề tài NCKHSPUD Tiếng Việt 4: Dạy Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 để hỗ trợ Tập làm văn


Ad: Cách mua bán Biccoin - Ad: Đầu tư tiền điện tử
Thể loại: Đề tài NCKHSPUD Tiếng Việt 4


Tên đề tài: Dạy Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 để hỗ trợ Tập làm văn
Định dạng tài liệu: Word

Số trang:  32 ( gồm phụ lục minh họa)


Qua thực nghiệm sư phạm tôi thấy việc áp dụng các bài tập Mở rộng vốn từ và việc triển khai các kế hoạch dạy Tập làm văn đưa ra trong luận văn thực sự đã giúp học sinh và giáo viên học các tiết Tập làm văn hiệu quả hơn. Có 2 lí do làm nên hiệu quả này là: bài tập Mở rộng vốn từ bổ sung hướng đến được các đối tượng học sinh; sự liên kết giữa bài tập Mở rộng vốn từ với cách khai thác các tiết Tập làm văn mang tính hệ quả rõ ràng. Từ thực tiễn trên, tôi có thể kết luận rằng việc dạy Mở rộng vốn từ lớp 4 để hỗ trợ Tập làm văn là khả thi và hết sức cần thiết. Tuy nhiên để việc vận dụng triển khai các bài tập Mở rộng vốn từ lớp 4 hỗ trợ Tập làm văn đạt hiệu quả, chúng tôi có những ý kiến đề xuất như sau:
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 chương trình hiện hành được xây dựng theo hệ thống chủ điểm, do đó từ trong các tiết Mở rộng vốn từ luôn xoay quanh những chủ điểm cho sẵn. Vì vậy, trên thực tế có nhiều các chủ điểm mà Tập làm văn không sử dụng được vốn từ do Mở rộng vốn từ cung cấp, ví dụ như chủ điểm: Người ta là hoa đất; Những người quả cảm; Khám phá thế giới; Tình yêu cuộc sống (sách giáo khoa Tiếng Việt 4 tập 2). Hoặc kể cả trong những chủ điểm thể hiện rõ mối quan hệ giữa Mở rộng vốn từ với Tập làm văn thì các từ sách giáo khoa đưa ra có nhiều chỗ chưa hợp lí. Ví dụ ở tuần 2, chủ điểm "Thương người như thể thương thân", học sinh được học "Mở rộng vốn từ: Nhân hậu - Đoàn kết" nhưng từ cần khai thác trong "Bài văn bị điểm không" phần nhận xét của tiết Tập làm văn "Kể lại hành động của nhân vật" lại có nội dung về "trung thự - tự trọng" (Được học trong tuần 5)...
Tôi mong rằng những phân tích trên hữu ích cho các cấp chỉ đạo và các nhà nghiên cứu giáo dục tham khảo để chuẩn bị cho việc thay sách giáo khoa giai đoạn 2015 - 2020.

2. Về phía giáo viên trực tiếp đứng lớp, các bài tập mà đề tài đưa ra mới chỉ là những gợi ý cơ bản. Người giáo viên trong thực tế giảng dạy cần sử dụng linh hoạt, sáng tạo hoặc có thể bổ sung những bài tập khác cho phù hợp với đặc điểm và trình độ nhận thức của học sinh nơi mình làm việc để giờ học đạt hiệu quả cao hơn.


Tải về để xem tiếp


Hướng dẫn tải đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:

- Bước 1: Soạn tin: HSG 1205 gửi 8685 (10.000 VNĐ/sms) để lấy mã tải đề tài NCKHSPUD này.

- Bước 2: Sau khi nhận được mã, bạn nhập mã vào khung bên dưới và bấm vào nút xác nhận.

- Bước 3: Bấm vào nút Tải về và biểu tượng dowload để tải đề tài NCKHSPUD


Nhập mã:
Lưu ý khi tải tài liệu: Việc tải tài liệu trên website Nghiên cứu khoa học sư phạm có tính phí sưu tầm, định dạng font chữ chuẩn, thống nhất. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ việc trả phí trước khi tải tài liệu. Trường hợp nhắn tin mà bạn không tải được tài liệu bạn không nên tải tiếp. Hãy gửi email tới SKKNNCKHSPUD@gmail.com để nhận tài liệu bạn đã tải (Báo Số điện thoại đã sms)

Đề tài NCKHSPUD Tiếng Việt 4: Nâng cao chất lượng dạy học các dạng bài tập LTVC bằng kĩ thuật “Khăn trải bàn”


Ad: Cách mua bán Biccoin - Ad: Đầu tư tiền điện tử
Thể loại: Đề tài NCKHSPUD Tiếng Việt 4


Tên đề tài:Nâng cao chất lượng dạy học các dạng bài tập LTVC  bằng kĩ thuật “Khăn trải bàn”
Định dạng tài liệu: Word

Số trang:30( gồm phụ lục minh họa)


TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, Luyện từ và câu được tách thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với các phân môn khác như Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn...Ngoài ra Luyện từ và câu còn được đặt trong các phân môn khác thuộc môn Tiếng Việt và trong giờ học của các môn khác...Như vậy nội dung dạy về luyện từ và câu trong chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học nói chung ở Tiểu học, chiếm một tỷ lệ đáng kể. Điều đó nói lên ý nghĩa quan trọng của việc dạy luyện từ và câu ở Tiểu học. Nói đến dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học người ta thường nói tới 3 nhiệm vụ chủ yếu là giúp học sinh phong phú hoá vốn từ, chính xác hoá vốn từ và tích cực hoá vốn từ. Phong phú hoá vốn từ còn gọi là mở rộng vốn từ; phát triển vốn từ nghĩa là xây dựng một vốn từ ngữ phong phú, thường trực và có hệ thống trong trí nhớ học sinh, để tạo điều kiện cho từ đi vào hoạt động ngôn ngữ (nghe - đọc, nói - viết) được thuận lợi; chính xác hoá vốn từ là giúp học sinh hiểu nghĩa của từ một cách chính xác - nhất là đối với những từ ngữ mà học sinh thu nhận được qua cách học tự nhiên, đồng thời giúp học sinh nắm được nghĩa của những từ ngữ mới. Tích cực hoá vốn từ là giúp học sinh luyện tập, sử dụng từ ngữ trong nói - viết, nghĩa là giúp học sinh chuyển hoá những từ ngữ tiêu cực ( từ ngữ mà chủ thể nói năng hiểu nhưng không hoặc ít dùng) thành những từ ngữ tích cực (từ ngữ được chủ thể nói năng sử dụng trong nói - viết) phát triển kỹ năng, kỹ xảo phát triển từ ngữ cho học sinh.
          Trong 3 nhiệm vụ cơ bản nói trên, nhiệm vụ phong phú  hoá vốn từ, phát triển, mở rộng vốn từ được coi là trọng tâm. Bởi vì, đối với học sinh tiểu học, từ ngữ được cung cấp trong phân môn Luyện từ và câu giúp các em hiểu được các phát ngôn khi nghe - đọc.
          Ngoài ra, ở một chừng mực nào đó, phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số khái niệm có tính chất sơ giản ban đầu về cấu tạo từ và nghĩa của từ Tiếng Việt (như các khái niệm từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, nghĩa của từ ...). Những kiến thức có tính chất lý thuyết về từ này có tác dụng làm cơ sở, làm chỗ dựa cho việc thực hành luyện tập về từ ngữ cho học sinh.
Với tầm quan trọng như vậy của phân môn Luyện từ và câu trong dạy học môn Tiếng Việt, trong những năm gần đây  nhà trường luôn tạo điều kiện cho công tác, đầy đủ sách giáo khoa, sách hướng dẫn và được học về sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại. Đội ngũ giáo viên yêu nghề, có năng lực sư phạm. Đồng thời nhà trường đều tổ chức các buổi thao giảng, thảo luận chuyên đề về phân môn Luyện từ và câu để nâng cao năng lực giảng dạy cũng như hiệu quả các tiết dạy thuộc phân môn này.  
Tuy nhiên, việc thực hiện dạy học phân môn Luyện từ và câu trong những năm gần đây đạt hiệu quả chưa cao. Rất nhiều giáo viên đã sử dụng nhiều biện pháp dạy học tích cực để mở rộng vốn từ, tích cực vốn từ của học sinh. Nhưng vốn từ, câu của học sinh còn gặp nhiều hạn chế, học sinh ít hứng thú học phân môn này. Bên cạnh đó, cách dạy của một số giáo viên còn nặng về giảng giải khô khan, nặng nề về áp đặt. Điều này gây tâm lý mệt mỏi, ngại học phân môn Luyện từ và câu. Với thực trạng này, đặt ra cho tất cả giáo viên phải suy nghĩ để tìm ra cách dạy học hiệu quả.
Giải pháp tôi đưa ra là sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực “ khăn trải bàn ” để nâng cao chất lượng dạy học  các dạng bài tập luyện từ và câu lớp 4D Trường Tiểu học XXX

Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: hai lớp 4 Trường Tiểu học XXX.. Lớp 4D là thực nghiệm và 4C là lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế bắt đầu từ tháng 9 của học kì I năm học XXX. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh: lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng. Điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 7,9; điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng là 6,9.  Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy p = 0,00097 < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng minh rằng sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực “ khăn trải bàn ” đã nâng cao chất lượng học phân môn Luyện từ và câu lớp 4D Tiểu học XXX. Mức độ ảnh hưởng SMD =  0,98. So sánh kết quả SMD với bảng tham chiếu Cohen  thì đây là mức ảnh hưởng lớn.  Điều đó chứng tỏ, việc sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực “ Khăn trải bàn” đã nâng cao chất lượng học môn Luyện từ và Câu cho học sinh lớp 4.


Tải về để xem tiếp


Hướng dẫn tải đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:

- Bước 1: Soạn tin: HSG 1204 gửi 8685 (10.000 VNĐ/sms) để lấy mã tải đề tài NCKHSPUD này.

- Bước 2: Sau khi nhận được mã, bạn nhập mã vào khung bên dưới và bấm vào nút xác nhận.

- Bước 3: Bấm vào nút Tải về và biểu tượng dowload để tải đề tài NCKHSPUD


Nhập mã:
Lưu ý khi tải tài liệu: Việc tải tài liệu trên website Nghiên cứu khoa học sư phạm có tính phí sưu tầm, định dạng font chữ chuẩn, thống nhất. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ việc trả phí trước khi tải tài liệu. Trường hợp nhắn tin mà bạn không tải được tài liệu bạn không nên tải tiếp. Hãy gửi email tới SKKNNCKHSPUD@gmail.com để nhận tài liệu bạn đã tải (Báo Số điện thoại đã sms)

3/23/2014

Đề tài NCKHSPUD Toán 4: NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI TOÁN LỜI VĂN “ TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ HIỆU CỦA HAI SỐ ĐÓ” (LỚP 4 TRƯỜNG TH XXX) THÔNG QUA VIỆC RÈN CÁCH PHÂN TÍCH ĐỀ VÀ NHẬN DIỆN DẠNG TOÁN


Ad: Cách mua bán Biccoin - Ad: Đầu tư tiền điện tử
Thể loại: Đề tài NCKHSPUD
Tên đề tài:NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI TOÁN LỜI VĂN “ TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ HIỆU CỦA HAI SỐ ĐÓ”  (LỚP 4 TRƯỜNG TH XXX) THÔNG QUA VIỆC RÈN CÁCH PHÂN TÍCH ĐỀ VÀ NHẬN DIỆN DẠNG TOÁN
Định dạng tài liệu: Word
Số trang:  35 (Gồm phụ lục minh họa)

Trong dạng trình môn học ở cấp Tiểu học, môn Toán chiếm số giờ rất lớn. Việc nâng cao hiệu quả của dạy và học môn Toán là một chuyên đề được  rất nhiều người quan tâm và tìm hiểu.


Nội dung môn Toán ở  Tiểu học được cấu trúc theo kiểu vòng tròn đồng tâm. Cùng với việc phát triển vòng số với 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia, học sinh được làm quen dần với giải các bài toán có lời văn . Ở lớp 1, 2, 3 học sinh làm quen với các dạng toán đơn: " nhiều hơn, ít hơn, gấp số lần, kém số lần", . Phải đến năm học lớp 4 cùng với việc mở rộng vòng số tự nhiên đến lớp triệu, lớp tỷ,... học sinh được học thêm các bài toán có lời văn dạng toán hợp với nhiều dạng khác nhau, tìm số trung bình cộng, tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỷ số của 2 số đó... Trong đó có dạng toán "Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó". Đây là dạng toán thường gặp, nó làm một bài toán đơn hoặc nằm trong một bài toán hợp thuộc dạng khác.

Cũng như các dạng toán khác, khi giải dạng toán này học sinh  thường lúng túng khi nhận dạng toán, phân tích bài toán cũng như vận dụng phương pháp giải, từ đó dẫn đến những sai lầm đáng tiếc .
Với sự say mê dạy toán, giải toán ở Tiểu học và mong muốn giúp học sinh có kỹ năng nhận dạng toán, phân tích bài toán, biết lựa chọn phương pháp giải phù hợp cho từng bài toán thuộc dạng toán này, tránh những sai lầm khi giải toán. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: Nâng cao hiệu quả giải toán lời văn “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”( lớp 4- Trường TH XXX) thông qua việc và rèn cách phân tích đề và nhận diện dạng toán
Để đạt được mục tiêu mà dạng trình đề ra, trước hết giáo viên phải nắm chắc mục tiêu, nội dung, những khả năng có thể khai thác trong từng bài. Điều quan trọng là giáo viên phải xây dựng những phương pháp dạy và học giúp học sinh có hứng thú thích giải bài toán có lời văn và đặc biệt ở dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó , góp phần phát triển năng lực tự phân tích đề và nhận diện được dạng toán của học sinh.
     - Giải toán có lời văn là một trong những vấn đề trọng tâm của phương pháp dạy học toán ở cấp học phổ thông. Giải toán còn là thước đo việc nắm lí thuyết, trình độ tư duy, tính linh hoạt sáng tạo của người học toán. Qua đó, người học toán được làm quen với cách đặt vấn đề, biết cách trình bày lời giải rõ ràng, chính xác và logic.
     -Trong quá trình giảng dạy môn Toán ở lớp 4, sau khi hướng dẫn học sinh nắm được kiến thức cơ bản và giải thành thạo các bài toán ở sách giáo khoa, giáo viên cần phải mở rộng, nâng cao hơn đối với những học sinh học giỏi, học sinh có năng khiếu về môn toán để tránh sự nhàm chán và kích thích tính ham học, ham hiểu biết của các em.
     - Với thực tế của trường  thì việc bồi dưỡng học sinh giỏi toán lớp 4 còn là nhiệm vụ quan trọng để làm tiền đề cho việc lựa chọn đội tuyển học sinh giỏi cho năm học sau.

 - Nghiên cứu được tiến hành trên hai lớp tương đương: Một lớp 4/1 là lớp được làm thực nghiệm và lớp 4/2 là lớp được chọn làm đối chứng của trường tiểu học Cam Lộc 2 với sĩ số ở mỗi lớp 36 em  trên cơ sở tương đương ( về lực học, độ tuổi, điều kiện hòan cảnh gia đình,…). Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập môn toán dạng Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó của các em; Lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng. Điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình 9.7; điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng là 8.8 . Kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p= 0.00004 < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm với lớp đối chứng. Điều đó chứng minh rằng sử dụng phương pháp gây hứng thú và rèn cách phân tích đề toán và nhận diện dạng toán trong giải toán có lời văn đã làm nâng cao kết quả học tập các bài học về dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.

Tải về để xem tiếp


Hướng dẫn tải đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:

- Bước 1: Soạn tin: HSG 1180 gửi 8685 (10.000 VNĐ/sms) để lấy mã tải đề tài NCKHSPUD này.

- Bước 2: Sau khi nhận được mã, bạn nhập mã vào khung bên dưới và bấm vào nút xác nhận.

- Bước 3: Bấm vào nút Tải về để tải đề tài NCKHSPUD


Nhập mã:



Lưu ý khi tải tài liệu: Việc tải tài liệu trên website Nghiên cứu khoa học sư phạm có tính phí sưu tầm, định dạng font chữ chuẩn, thống nhất. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ việc trả phí trước khi tải tài liệu.

3/21/2014

Đề tài NCKHSPUD lớp 4: Một số biện pháp Giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt lớp 4


Ad: Cách mua bán Biccoin - Ad: Đầu tư tiền điện tử
Thể loại: Đề tài NCKHSPUD


Tên đề tài:  Một số biện pháp Giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt lớp 4
Định dạng tài liệu: Word

Số trang:  27( gồm phụ lục minh họa)

I/ TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
C
hương trình dạy kĩ năng sống đươc tích hợp trong các môn học và hoạt động ngoại khoá ở trường. Việc làm này được nhiều người ủng hộ và kì vọng. Song, thực tế thí điểm một năm cho thấy, đây không phải là vịệc muốn là làm được và không hẳn có kết quả ngay mà phải có sự kết hợp của gia đình, nhà trường và xã hội.


Cấp Tiểu học, đọc là một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đọc giúp các em chiếm lĩnh ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp, học tập, tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Đọc tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Đọc là khả năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh. Vì lẽ đó, ở trường Tiểu học giáo viên có nhiệm vụ dạy cho học sinh một cách có hệ thống các phương pháp để hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh. Tập đọc là một phân môn thực hành mang tính tổng hợp, nhiệm vụ quan trọng nhất là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Qua bài tập đọc học sinh được làm quen với ngôn ngữ văn học, các nhân vật trong các bài tập đọc, các thông điệp mà nội dung bài học cần thông báo ...Tập đọc giúp các em phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, bồi dưỡng cho các em cảm nhận được những rung cảm  thẩm  mỹ, cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ qua bài đọc, từ đó giáo dục cho các em những tình cảm trong sáng tốt đẹp.
Theo nghiên cứu mới được ngành giáo dục công bố, có 37% sinh viên ra trường không tìm được việc làm do thiếu kĩ năng thực  hành xã hội( khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, giao tiếp…) 83% sinh viên ra trường bị các nhà tuyển dụng dánh giá là thiếu kĩ năng sống. Nhiều em học sinh giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, khả năng tự chủ và khả năng giao tiếp lại rất kém, nguyên nhân sâu xa là  do các em thiếu kĩ năng sống. Các em chưa bao giờ được dạy cách đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống nhưn cha mẹ li hôn, bạo lực gia đình, gia dình phá sản, kết quả học tập kém,…Các em không dạy để hiểu về giá trị cuộc sống.
Trong năm học vừa qua, nhiều trường cũng chú trọng rèn kĩ năng sống cho học sinh, nhưng vì chưa có giáo trình chuẩn nên mỗi trường dạy một kiểu. Nói như ông XXX, Phó trưởng Ban thanh niên trường học: “ Học kĩ năng sống cũng giống như học bơi, muốn biết bơi thì phải xuống nước tập bơi chứ không thể đứng trên bờ nhìn mà biết được.”.
Thực hiện Chỉ thị số 40/CT-BGD ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về phát động phong trào thi đua và Kế hoạch số 307/KH-BGD&ĐT ngày 22/07/2008 của Bộ Giáo dục và đào tạo về kế hoạch triển khai “Xây dựng trường học thân thiện - Học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013. Các trường phổ thông trên toàn quốc đã triển khai kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện cuộc vận động này. Tuy nhiên, để thực hiện có hiệu quả cuộc vận động chúng ta cần xác định rõ nội dung của cuộc vận động. Từ đó, đưa ra những giải pháp cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường và địa phương.
Kĩ năng sống sẽ hình thành một cách tự nhiên và hiệu quả trong những môi trường hoạt động cụ thể chứ không từ những bài giảng trên lớp. Chỉ từ những bài giảng, các em không thể tự hình thành kĩ năng sống cho mình mà chỉ có thể hình dung chung về nó.
Hơn nữa, việc giáo dục kĩ năng sống không phải tự áp đặt. Giáo viên giảng dạy phải có kiến thức tâm lí, kĩ năng sống, chứ không nên kiêm nhiệm hay dạy theo ngẫu hứng. Và quan trọng hơn hết là cần có sự phối hợp gia đìn,nhà trường, và các tổ chức xã hội.
Ông XXX, Vụ trưởng Vụ công tác học sinh, sinh viên (Bộ GD& ĐT) thừa nhận: Bộ đã chọn phương án lồng ghép vào chương trình học, các môn học, các hoạt dộng trong nhà trường. Đây là lồng ghép chứ  không tạo thành môn học riêng. Kĩ năng sống muốn có được trước hết phải có kiến thức, được rèn luyện thành khả năng luôn luôn sẵn có trong mình để ứng xử chứ không phải gặp tình huống đó lại mang sách ra đọc sau một năm thực hiện bản thân tôi nhận thấy:
-  Theo hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo thì có quá nhiều kĩ năng, một học
sinh tiểu học rất khó xác định mình vừa tiếp cận kĩ năng nào và đã có được kĩ năng nào?
          -  Kĩ năng sống (KNS) là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lống ghép này không dừng lại ở mức giảng dạy lí thuyết mà sẽ cụ thể hoá thành từng trường hợp, hoàn cảnh và yêu cầu hócinh xử lí.
             Ở tại từng địa phương khác nhau, yêu cầu về KNS không giống nhau.
          -  Thứ trưởng XXX cũng đã chỉ đạo: “  Tuỳ tình hình cụ thể, từng địa phương có thể chủ động khai thác các KNS trọng yếu cho học sinh của dịa phương mình”.
          - Khó khăn lớn nhất khi giảng dạy kĩ năng sống cho học sinh là phần lớn giáo viên đều chưa quen việc. Trong các buổi sinh hoạt, tổ trưởng chuyên môn thường phải nhắc nhở thì giáo viên mới nhớ. Nhiều giáo viên còn hiểu nhầm “ môn đạo đức mới là môn có trách nhiệm giảngdạy kĩ năng sống”. Việc phối hợp với phụ huynh là cực kì quan trọn, không nên phụ thuộc quá nhiều vào giáo viên vì giáo dục kĩ năng sống không phải chỉ trong ngày một ngày hai mà  là một quá trình lâu dài, liên tục.
            Môn Tiếng Việt có nhiều thuận lợi hơn cả vì bản thân nội dung bài học đã buộc học sinh phải vận dụng rất nhiều kĩ năng ( tư duy sáng tạo, xúc cảm, trình bày suy nghĩ, vấn đáp, giải quyết vấn đề,…)
             Tôi đã thử nghiệm chọn một số kĩ năng cần thiết nhất để giáo dục cho hócinh lớp tôi. Tôi đã kiểm chứng qua việc giáo dục kĩ năng sống cho hócinh qua môn Tiếng Việt lớp 4 và kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trong quá trình giáo dục kĩ năng sốngcho hócinh tôi nhận thấy  kĩ năng của học sinh tốt lên một cách rõ rết.
Thầy, cô giáo tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của học sinh.
- Học sinh được khuyến khích đề xuất sáng kiến và cùng các thầy cô giáo thực hiện các giải pháp để việc dạy và học có hiệu quả ngày càng cao.
T            Chính vì thế tôi chọn đề tài này để cùng trao đổi một kinh nghiệm nhỏ cùng các đồng nghệp với mong  ước việc giáo dục, hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh nhất là học sinh tiểu học đạt nhiều két quả tốt.
            Trong quá trình  triển khai tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của bộ phận chuyên môn, sự hợp tác nhiệt tình của tập thể học sinh Trường tiểu XXX Tuy thời gian triển khai đề tài chưa nhiều nhưng cũng đã đem lại một số kết quả đáng kể.
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm ; nâng cao tính tự lực tự quản của các em.
- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác. Chấm dứt việc nô đùa nguy hiểm.
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. Chấm dứt các vi phạm đánh nhau, tụ tập băng nhóm…

             Tôi xin chân thành cảm ơn BGH Trường tiểu học XXX, tập thể thầy cô giáo trong hội  đồng sư phạm, tập thể học sinh đã giúp tôi hoàn thành đề tài này. Rất mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến này thành công hơn và đã đi vào thực tế giảng dạy trong nhà trường.


Tải về để xem tiếp


Hướng dẫn tải đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:

- Bước 1: Soạn tin: HSG 1147 gửi 8685 (10.000 VNĐ/sms) để lấy mã tải đề tài NCKHSPUD này.

- Bước 2: Sau khi nhận được mã, bạn nhập mã vào khung bên dưới và bấm vào nút xác nhận.

- Bước 3: Bấm vào nút Tải về để tải đề tài NCKHSPUD


Nhập mã:
Lưu ý khi tải tài liệu: Việc tải tài liệu trên website Nghiên cứu khoa học sư phạm có tính phí sưu tầm, định dạng font chữ chuẩn, thống nhất. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ việc trả phí trước khi tải tài liệu.

Đề tài NCKHSPUD Toán 4: "DẠY GIẢI TOÁN - DẠNG ĐIỂN HÌNH: TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ TỶ SỐ CỦA HAI SỐ ĐÓ, Ở LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC XXX"


Ad: Cách mua bán Biccoin - Ad: Đầu tư tiền điện tử
Thể loại: Đề tài NCKHSPUD
Tên đề tài:"DẠY GIẢI TOÁN - DẠNG ĐIỂN HÌNH: TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ TỶ SỐ CỦA HAI SỐ ĐÓ, Ở LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC XXX"
Định dạng tài liệu: Word
Số trang:  20 (Gồm phụ lục minh họa)



II - NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI.
          1. Đưa ra được mô hình nghiên cứu: thông qua việc sử dụng phiếu điều tra (Anket). Điều tra trên hai nhóm, nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Thu thập số liệu; lập bảng thống kê; sử lý các số liệu; phân tích, tổng hợp các số liệu để tìm ra nguyên nhân, những sai lầm cơ bản mà học sinh thường mắc phải khi giải dạng toán điển hình "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó".

          2. Trên cơ sở đó tác động phương pháp mới vào nhóm thực nghiệm, giúp học sinh vận dụng giải các bài toán dạng nêu trên. Qua đó thấy được những ưu điểm và hiệu quả của việc sử dụng phương pháp mới, phương pháp : Phát huy tối đa khả năng tư duy của học sinh trong quá trình học và giải Toán. Thầy thiết kế, trò thi công, dưới sự hướng dẫn của thầy, trò tự tìm ra cách giải tốt nhất. Từ đó áp dụng đại trà trên diện rộng - phạm vi toàn trường.

Tải về để xem tiếp


Hướng dẫn tải đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:

- Bước 1: Soạn tin: HSG 1133 gửi 8685 (10.000 VNĐ/sms) để lấy mã tải đề tài NCKHSPUD này.

- Bước 2: Sau khi nhận được mã, bạn nhập mã vào khung bên dưới và bấm vào nút xác nhận.

- Bước 3: Bấm vào nút Tải về để tải đề tài NCKHSPUD


Nhập mã:
Lưu ý khi tải tài liệu: Việc tải tài liệu trên website Nghiên cứu khoa học sư phạm có tính phí sưu tầm, định dạng font chữ chuẩn, thống nhất. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ việc trả phí trước khi tải tài liệu.

Đề tài NCKHSPUD Toán 3, 4: ĐƯA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY MÔN TOÁN 3 VÀ ĐƯA PHẦN MỀM HỖ TRỢ GV KHỐI 4 TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM THI CỦA HS VÀ MỘT SỐ CÔNG VIỆC TRONG CÔNG TÁC GIÚP GV KHỐI 4 GIẢM ÁP LỰC CÔNG VIỆC


Ad: Cách mua bán Biccoin - Ad: Đầu tư tiền điện tử
Thể loại: Đề tài NCKHSPUD
Tên đề tài: ĐƯA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  VÀO DẠY MÔN TOÁN 3 VÀ ĐƯA PHẦN MỀM HỖ TRỢ GV KHỐI 4 TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM THI CỦA HS VÀ MỘT SỐ CÔNG VIỆC TRONG CÔNG TÁC GIÚP GV KHỐI 4 GIẢM ÁP LỰC CÔNG VIỆC
Định dạng tài liệu: Word
Số trang:  35 (Gồm phụ lục minh họa)


I.TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
            Ứng dụng CNTT là một yêu cầu quan trọng của việc đổi mới PPDH. Trường Tiểu học XXX cũng như các trường học khác cần quan tâm đến việc ứng dụng CNTT vào dạy học tất cả các bộ môn trong đó có môn Toán. Vì các nội dung dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung và môn Toán 3 nói riêng có rất nhiều vấn đề trừu tượng. Ví dụ: các dạng bài về hình học, các dạng bài triển khai hình, các cách sắp xếp hình, sơ đồ,....Để hỗ trợ việc dạy học các nội dung này, SGK cũng có khá nhiều hình ảnh minh họa. Nhiều giáo viên tâm huyết cũng đã sưu tầm và sử dụng thêm các phương tiện bổ trợ như tranh, ảnh, sơ đồ,...Giáo viên hướng dẫn HS quan sát, kèm theo lời mô tả, giải thích, với mục đích giúp cho HS hiểu bài hơn. Tuy nhiên đối với nội dung khó như khi mô tả các dạng bài về “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị; Diện tích của một hình,...” mà giáo viên chỉ dùng lời nói và hình ảnh tĩnh để minh họa thì học sinh rất khó hình dung, việc tiếp thu bài của các em vẫn hạn chế. Nhiều học sinh làm được bài nhưng không hiểu được bản chất của bài dẫn đến kĩ năng vận dụng thực tế vẫn chưa tốt. Hay dạng bài “chia hai, ba, bốn, năm chữ số cho số có một chữ số” mà giáo viên chỉ dùng lời nói để mô tả thì học sinh rất khó hình dung. Nhiều học sinh vẫn làm được bài song vẫn không hiểu cách hạ các chữ số tiếp theo như thế nào, xuống chỗ nào là đúng. Bên cạnh đó công tác quản lý điểm thi cho HS cũng như làm một số công việc khác của GV khối 4 còn mất rất nhiều thời gian vì khi quản lý điểm qua mạng Internet nếu như gặp sự cố về mạng cũng như nếu máy tính nhà mình không có mạng thì những việc như sau gặp không ít khó khăn về thời gian. Ví dụ như: In điểm thi đầu năm, in điểm thi GKI, in điểm thi CKI, in điểm GKII, in điểm cả năm, thống kê các môn phụ, in phiếu liên lạc kỳ I, in phiếu liên lạc cuối năm, thống kê đầu năm, thống kê giữa kỳ I, thống kê cuối kỳ I, thống kê giữa kỳ II, thống kê cuối năm.
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

         Giải pháp của tôi là sử dụng một số tệp có định dạng Flash và video clip có nội dung phù hợp vào một số bài học thuộc dạng bài “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị; Diện tích của một hình,... ” hoặc dùng các hiệu ứng phù hợp thay vì sử dụng các hình ảnh tĩnh trong SGK và coi đó là nguồn cung cấp thông tin giúp các em tìm hiểu bản chất, đặc điểm của các dạng bài đó. Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương quan: Hai lớp 3 trường Tiểu học XXX. Lớp 3A là lớp thực nghiệm và 3B là lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy các bài về “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị; Diện tích của một hình,...”; “Chia số có hai; ba; bốn; năm chữ số cho số có một chữ số”. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh, lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng. Điểm bài đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 8,09; điểm bài đầu ra của lớp đối chứng là 7,21. Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy p < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng minh rằng đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Toán 3 làm nâng cao kết quả học tập các bài học về “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị; Diện tích của một hình;...”; “Chia số có hai; ba; bốn; năm chữ số cho số có một chữ số” cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học XXX. Đồng thời cũng viết một phần mềm quản lý điểm cho HS khối 4 và lấy GV khối 4 của trường Tiểu học XXX chia làm hai nhóm tương quan cùng thực nghiệm và đối chứng



Tải về để xem tiếp


Hướng dẫn tải đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:

- Bước 1: Soạn tin: HSG 1131 gửi 8685 (10.000 VNĐ/sms) để lấy mã tải đề tài NCKHSPUD này.

- Bước 2: Sau khi nhận được mã, bạn nhập mã vào khung bên dưới và bấm vào nút xác nhận.

- Bước 3: Bấm vào nút Tải về để tải đề tài NCKHSPUD


Nhập mã:
Lưu ý khi tải tài liệu: Việc tải tài liệu trên website Nghiên cứu khoa học sư phạm có tính phí sưu tầm, định dạng font chữ chuẩn, thống nhất. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ việc trả phí trước khi tải tài liệu.

3/18/2014

Đề tài NCKHSPUD TOÁN LỚP 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH GIẢI TỐT BÀI TOÁN “TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ HIỆU CỦA HAI SỐ ĐÓ”


Ad: Cách mua bán Biccoin - Ad: Đầu tư tiền điện tử
Thể loại: Đề tài NCKHSPUD
Tên đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH GIẢI TỐT BÀI TOÁN “TÌM HAI SỐ KHI BIẾT  TỔNG VÀ HIỆU CỦA HAI SỐ ĐÓ”
Định dạng tài liệu: Word
Số trang:  20 (Gồm phụ lục minh họa)


1.     Tóm tắt đề tài:

Việc dạy toán ở trường tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng. Việc giải các bài toán điển hình không chỉ nhằm rèn luyện kĩ năng giải toán mà còn nhằm phát triển năng lực và các thao tác tư duy toán học.


          Trong toán lớp 4, nội dung và phương pháp dạy học giải bài toán có văn tiếp tục phát triển theo định hướng tăng cường rèn luyện phương pháp giải bài toán (phân tích bài toán, tìm cách giải quyết vấn đề trong bài toán và cách trình bày giải bài toán). Qua đó, giúp học sinh rèn luyện khả năng diễn đạt (nói và viết) và khả năng phát tiển tư duy (khả năng phân tích, tổng hợp, giải quyết vấn đề). Nhờ đó mà các em sáng suốt hơn, tinh tế hơn, tư duy sẽ linh hoạt chính xác hơn, cách suy nghĩ và việc làm sẽ khoa học hơn.
  
          Trong khi giải toán còn đòi hỏi học sinh còn tự mình xem xét vấn đề, tự mình tìm tòi cách giải quyết vấn đề, tự mình thực hiện các phép tính, tự mình kiểm tra lại kết quả. Do đó, việc giải toán là một cách tốt nhất để rèn luyện tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo, yêu thích sự chặt chẽ, chính xác.
  
          Từ đó cho thấy việc học toán ở tiểu học có vị trí rất quan trọng.
          Trong khi đó, học sinh vẫn còn rất mơ hồ về dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”.

          Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: hai lớp 4 trường tiểu học XXX. Lớp 4.6 là lớp thực nghiệm và lớp 4.7 là lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy bài “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”. Kết quả cho thấy tác động đã ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh: lớp thực nghiệm đã đạt được kết quả cao hơn so với lớp đối chứng. Điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 9,5; điểm kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng là 4,1. Kết quả kiểm chứng TTEST cho thấy P < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng minh rằng trong dạy học toán bài “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” bằng cách đọc kĩ đề toán và phân tích những điểm trọng tâm của đề làm nâng cao kết quả học tập của học sinh lớp 4.

Tải về để xem tiếp

- Soạn tin: HSG 1060 gửi 8685 (10.000 VNĐ/sms) để lấy mã tải tài liệu này.

- Sau khi nhận được mã, bạn nhập mã vào khung bên dưới và bấm vào nút xác nhận.

- Bấm vào nút Tải về để tải tài liệu


Nhập mã:
Lưu ý khi tải tài liệu: Việc tải tài liệu trên website Nghiên cứu khoa học sư phạm có tính phí sưu tầm, định dạng font chữ chuẩn, thống nhất. Vì vậy bạn nên cân nhắc kỹ việc trả phí trước khi tải tài liệu.