Pages

10/26/2013

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VIỆT NAM

I. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC – NHỮNG MỐC LỊCH SỬ VÀ SỰ KIỆN QUAN TRỌNG

1. Giáo dục Việt Nam trong thời phong kiến và thời thuộc địa
1.1. Giáo dục Việt Nam trong thời phong kiến
Kể từ thời các vua Hùng dựng nước cho tới khi Ngô Quyền xưng vương, đánh tan quân Nam Hán, chấm dứt hơn nghìn năm Bắc thuộc, hầu như không có tài liệu nói về giáo dục (với nghĩa hẹp là dạy và học chữ). Tuy nhiên, căn cứ vào việc sử sách ca ngợi công lao của thái thú Sỹ Nhiếp mở mang việc học tại Giao Chỉ và một số đoạn nói về một vài người Việt đỗ đạt và làm quan ở phương Bắc, có thể nói trong thời Bắc thuộc đã có một tầng lớp người Việt biết chữ. [1] Hơn nữa, cùng với việc du nhập đạo Phật, chắc chắn chùa chiền phải là nơi dạy chữ để đào tạo các nhà sư và truyền bá kinh kệ.

Bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ hai, cùng với việc xây dựng và bảo vệ đất nước, tổ tiên ta đã dành nhiều công sức phát triển nền giáo dục dân tộc. Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám Thăng Long, do vua Lý Nhân Tông cho thành lập vào năm 1076. [1] Lúc đầu Quốc Tử Giám chỉ nhằm dạy con cái vua quan, sau mở rộng dần cho những thanh thiếu niên có tư chất và đủ trình độ trong dân gian. Vào năm 1483, Quốc Tử Giám đã có 300 xá sinh (sinh viên nội trú) gồm con em gia đình quý tộc, quan lại, chưa kể số con em dân thường, học giỏi được phép đến nghe giảng (như sinh viên ngoại trú). [2] Về lực lượng giảng dạy, ngoài những quan chức ở Quốc Tử Giám, triều đình còn cho phép các nhà Nho uyên thâm đến giảng dạy (tương tự giáo sư thỉnh giảng ngày nay). [1] Sau này, triều Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân, đã mở Quốc Tử Giám tại Huế. Ngày nay, Quốc Tử Giám Thăng Long được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Sau khi mở mang việc dạy học ở kinh đô, dần dần nhà nước phong kiến chú ý đến việc tổ chức hoạt động giáo dục ở địa phương. Năm 1397, thời vua Trần Thuận Tông, triều đình cho đặt học quan ở các lộ, phủ lớn (đơn vị hành chính tương đương với cấp tỉnh ngày nay) để lo việc giáo dục. [1] Đến thế kỷ XV - XVI, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển rực rỡ. Các phủ, lộ đều có trường công. [2]
Đồng thời với việc phát triển hệ thống giáo dục, nhà nước phong kiến rất quan tâm tổ chức các kỳ thi, xem đây là biện pháp quan trọng nhằm chọn người tài giỏi tham gia bộ máy điều hành quốc gia. Năm Ất Mão 1075, dưới thời vua Lý Nhân Tông, triều đình mở kỳ thi Nho học tam trường để tuyển Minh kinh bác học. [1] Thống kê từ chính sử, trong thời gian 84 năm (1442 đến 1526), nhà nước phong kiến đã tổ chức 26 khoa thi Hội. [2] Theo quy định thời đó, trước thi Hội có thi Hương, như vậy tổng số các kỳ thi lên tới 52 chưa kể, cứ sau một kỳ thi Hội còn một kỳ thi Đình để chọn 3 người đứng đầu và xếp hạng những người trúng tuyển. [2] Năm 1471 (đời vua Lê Thánh Tông), số quan lại có phẩm tước là 5370, riêng ở triều đình (nhà nước trung ương) là 2755, phần lớn được lựa chọn qua thi cử. [2] Các triều đại tiếp theo, việc thi cử vẫn được duy trì và phát triển với quy mô lớn hơn, kể cả trong thời gian Trịnh - Nguyễn phân tranh. Cũng theo thống kê như thế, có thể chưa đầy đủ, tổng số các tiến sĩ, phó bảng và tương đương (trúng tuyển thi Hội) kể từ khoa thi đầu tiên 1075 đến khoa thi cuối cùng 1919 là 2.848 người. [2]
Cần lưu ý là, các quy định về thi cử dưới thời phong kiến hết sức chặt chẽ, chứng tỏ năng lực quản lý đối với hệ thống giáo dục của các triều vua từ Lý, Trần đến Lê, Nguyễn rất cao. Kỳ thi Hội năm 1442 có 450 thí sinh, trúng tuyển 33 (chiếm 7,3%). Kỳ thi Hội năm 1448 có 750 thí sinh, trúng tuyển 27 (chiếm 3,6%). [2] Tuy chuyện buôn quan, bán tước cũng có lúc xẩy ra nhưng việc gian lận trong thi cử thì rất hiếm và đối với những người có hành vi gian lận trong thi cử dù ở bất kỳ cấp bậc nào cũng đều bị trừng trị nghiêm khắc. Bằng việc tuyển chọn nhân tài thông qua thi cử, tuy hết sức khắt khe nhưng lại mang yếu tố dân chủ vì đã tạo được cơ may cho con cái tầng lớp bình dân. Một điều đặc biệt lý thú là, trong giai đoạn mới thành lập, vương triều Trần cũng đã tính đến điều kiện học tập không đồng đều giữa các địa phương từ đó quy định một kỳ thi có hai trạng nguyên: kinh trạng nguyên cho khu vực thuận lợi và trại trạng nguyên cho khu vực khó khăn. 
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thời phong kiến, bên cạnh một số lượng không nhiều các trường công, tại nhiều làng xã, đã có những gia đình mời thầy đến ở trong nhà, dạy con em mình và thanh thiếu niên trong làng. Nhà chủ chịu trách nhiệm chu cấp cho thầy. Như vậy, từ xa xưa dạy học đã là một nghề. Hơn nữa, theo Nho giáo, đối với mỗi con người, vị trí của ông thầy chỉ ở dưới vua và trên cả cha mẹ (quân - sư - phụ). Trong xã hội Việt Nam, quan niệm phổ biến của không ít người là “dù nghèo, cũng cố cho con học dăm ba chữ để làm người”. Còn để trở thành người lãnh đạo, theo cách lựa chọn quan lại của hầu hết các triều đại, nhất thiết phải học giỏi và đỗ đạt trong các kỳ thi (thi văn hoặc thi võ). Cũng nên nhớ rằng, cùng với các kỳ thi chọn tiến sỹ, nhà nước phong kiến còn tổ chức các kỳ thi lại viên, tuyển chọn những người biết chữ, biết tính toán, để làm thuộc lại ở các sảnh, viện, giúp việc cho các quan đầu triều. [1], [2]
Suốt cả nghìn năm, người Việt Nam học chữ Hán (đọc chữ Hán theo cách phát âm riêng của người Việt) và sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức để ghi chép. Mặc dầu vậy, nhờ phát triển giáo dục, duy trì và hun đúc ý thức độc lập dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, người Việt đã  không bị Hán hoá. Bên cạnh việc sử dụng chữ Hán, người Việt Nam còn dựa theo chữ Hán chế tác chữ nôm để ghi chép, biểu đạt bằng tiếng Việt. Người đầu tiên, được sách sử ghi tên, có công đối với việc phát triển chữ nôm là Nguyễn Thuyên. Ông đã dùng chữ nôm làm bài văn tế đuổi cá sấu, được vua Trần Nhân Tông cho đổi sang họ Hàn-Hàn Thuyên, ví ông như Hàn Dũ, văn sỹ đời Hán bên Tàu cũng đã làm văn đuổi cá sấu. [3] Bản thân vua Trần Nhân Tông cũng có bài phú Cư trần lạc đạo viết bằng chữ nôm. Sau này, nhiều tác phẩm văn chương, lịch sử, y học, khoa học có giá trị rất lớn đã được viết bằng chữ nôm. Tiêu biểu là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, bản dịch Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm, Truyện Kiều của Nguyễn Du.
1.2. Giáo dục VN thời thuộc Pháp
Từ cuối thế kỷ XIX và gần nửa thế kỷ XX, trong hơn 80 năm nước ta bị thực dân Pháp xâm lược. Dưới chế độ thuộc địa, nền giáo dục Nho học được thay thế dần bằng nền giáo dục Pháp - Việt, chủ yếu để đào tạo người phục vụ cho bộ máy cai trị của thực dân. Trong năm học 1936 - 1937, ở vào thời điểm thịnh vượng nhất của xứ Đông Dương, cả nước chỉ có 2.322 trường sơ học (3 năm), bình quân 3 làng, chừng 3.000 dân có một trường, số học sinh bằng 2% dân số; 638 trường tiểu học (3 năm), bình quân 34 làng, chừng 30.000 dân có một trường, số học sinh bằng 0,4% dân số; 16 trường cao đẳng tiểu học (4 năm), bình quân 1,2 triệu dân có một trường, số học sinh bằng 0,05% dân số; 3 trường trung học công và 3 trường trung học tư ở 3 thành phố (Hà Nội, Huế, Sài Gòn) số học sinh trung học công bằng 0,0019% dân số. [4] Năm học 1941 - 1942, toàn Đông Dương có 3 trường đại học (Luật, Y - Dược, Khoa học) đặt tại Hà Nội với tổng số 834 sinh viên (628 sinh viên người Việt). [4] Trong hệ thống giáo dục Pháp - Việt, tiếng Pháp chiếm ưu thế và là chuyển ngữ ở bậc đại học. Với một nền giáo dục như vậy, trên 95% dân số Việt Nam mù chữ. Nhưng, vượt ngoài mong đợi của chính quyền thực dân, từ trong nền giáo dục đó vẫn xuất hiện một đội ngũ trí thức uyên thâm về học thuật, nồng nàn lòng yêu nước, có những đóng góp rất to lớn vào công cuộc giành lại độc lập, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.
Trong lĩnh vực giáo dục dưới thời thuộc Pháp, bên cạnh hoạt động của hệ thống trường lớp của nhà nước thực dân - phong kiến, có hai sự kiện quan trọng:Một là, phong trào Duy Tân do một số nhà Nho yêu nước (Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp …) khởi xướng mà nội dung quan trọng là lập trường học, cổ xúy lòng yêu nước, phê phán chế độ quân chủ lỗi thời, khuyến khích thực nghiệp, với mong muốn thực thi học thuyết “ Chấn dân khí- Khai dân trí- Hậu dân sinh” nhằm nâng dân tộc ngang tầm thời đại để trên cơ sở đó giành lại độc lập. Phong trào Duy Tân diễn ra sôi nổi ở Quảng Nam bắt đầu từ năm 1902, đến năm 1907, với việc thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội (do Lương Văn Can chủ xướng), phong trào Duy Tân đã tiến vượt bậc cả về tổ chức và lý luận. [6]Hai là, Hội truyền bá chữ quốc ngữ do các trí thức yêu nước thành lập ngày 5/11/1938. Ban lãnh đạo gồm các ông Nguyễn Văn Tố, Bùi Kỷ, Phan Thanh, Quản Xuân Nam, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Xuân Hãn, Lê Thước, Trần Văn Giáp…. Trong suốt 7 năm tồn tại, tính đến tháng 8 năm 1945, Hội đã giúp cho hơn 7 vạn ngưòi biết đọc, biết viết, biết tính toán. Bên cạnh kết quả đó, phong trào truyền bá chữ quốc ngữ còn đào tạo được nhiều cán bộ trung kiên, có kinh nghiệm về chống nạn thất học, đã cung cấp cho cách mạng một số cán bộ và chiến sĩ  để sau này, qua rèn luyện đã trở thành những cán bộ quản lý chủ chốt của ngành giáo dục, của bộ máy chính quyền mới. [4]
2. Từ ngày độc lập đến kháng chiến thứ nhất thắng lợi (1945-1954)
2.1. Trong năm đầu của chế độ Dân chủ - Cộng hòa
Sau khi nhân dân giành được chính quyền và tuyên bố nền độc lập của đất nước, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm” là ba nhiệm vụ trọng yếu của Chính phủ và nhân dân ta lúc đó [5]. Ngày 6-9-1945, Người đã gửi thư cho học sinh nhân dịp khai giảng năm học 1945-1946, khẳng định sự ra đời của một nền giáo dục mới với sứ mệnh phục vụ công cuộc giữ gìn độc lập và phục hưng đất nước, trong đó chỉ rõ mục đích học tập của thế hệ trẻ mà cũng là nhiệm vụ chiến lược của nền giáo dục mới là làm cho “non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp”, “dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu”. [5]
Xuất phát từ triết lý “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, ngày 8-9-1945, Chính phủ ban hành các văn kiện pháp lý quan trọng: Sắc lệnh số 17-SL: "Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam", Sắc lệnh số 19-SL: "Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân học buổi tối" và Sắc lệnh số 20-SL: "Trong khi chờ đợi lập được nền tiểu học cưỡng bách, việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người" [1]. [5] Tiếp đó, vào đầu tháng 10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học. [5]
Thực hiện chủ trương của Chính phủ và hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ trong vòng chưa đầy một năm, cả nước đã có gần 75 ngàn lớp học bình dân với gần 96 ngàn giáo viên (người biết chữ dạy người không biết chữ) giúp cho hơn 2,5 triệu người thoát khỏi nạn mù chữ. [5] Như vậy, ngay khi nền cộng hoà dân chủ vừa được thành lập, xoá nạn mù chữ và nâng cao trình độ học vấn của toàn dân đã trở thành một quốc sách và việc học tập để biết đọc, biết viết, biết tính toán đã được nhân dân tiếp nhận làm một tiêu chí biểu hiện văn hoá. Từ đó, qua suốt nhiều thập kỷ, Việt Nam kiên trì thực hiện xoá mù chữ và nâng cao trình độ học vấn của toàn dân.
Song song với việc tổ chức để các trường mở cửa, tiếp tục công việc giảng dạy, học tập, Bộ Giáo dục cố gắng giúp Chính phủ kiến tạo cơ sở pháp lý cho chính sách giáo dục của chế độ mới. Năm 1946, trong bối cảnh phải tập trung đối phó với mưu mô gây chiến của các thế lực thực dân, Chính phủ đã ban hành hai sắc lệnh: số 146-SL và số 147-SL. [5] Nội dung chủ yếu của hai sắc lệnh này là:
(i) Khẳng định tôn chỉ của nền giáo dục nước nhà là phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ; ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục là: dân tộc, khoa học, đại chúng.
(ii) Xác định cơ cấu của nền giáo dục mới, sau giáo dục ấu trĩ (tiền học đường), có ba cấp học:
Đệ nhất cấp, là bậc học cơ bản, thực hiện trong 4 năm học.
Đệ nhị cấp, có hai ngành: (i) ngành học tổng quát gồm hai bậc: bậc phổ thông 4 năm và bậc chuyên khoa 3 năm; (ii) ngành học chuyên môn, gồm hai bậc: bậc thực nghiệm 1 năm và bậc chuyên nghiệp từ 1-3 năm (tuỳ theo ban).
Đệ tam cấp, có đại học (gồm các ban: văn khoa, khoa học, pháp lý...) và cao đẳng chuyên môn, sinh viên học ít nhất 3 năm. Tiếp nối đại học là các “nghiên cứu viện”.
Song song với ba cấp học là ba cấp của ngành sư phạm, gồm sư phạm sơ cấp, sư phạm trung cấp, sư phạm cao cấp.
(iii) ấn định những điều khoản pháp lý để thực hiện bậc học cơ bản: tất cả trẻ em từ 7-13 tuổi đều có thể đến trường, không phải trả tiền học và từ năm 1950 sẽ là bậc học cưỡng bách. Đối với đại học, từ 1950 trở đi, các môn học được dạy bằng tiếng Việt. Đây là một quyết định táo bạo, thể hiện tinh thần dân tộc của đội ngũ trí thức Việt Nam, vì tiếng Pháp, trong một thời gian dài trước đó vốn được dùng làm chuyển ngữ ở tất cả các nhà trường.[2] [5]
2.2. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp
Mặc dầu Chính phủ Dân chủ Cộng hòa tìm mọi cách để giữ gìn nền độc lập trong mối quan hệ hữu nghị với nước Pháp, nhưng thực dân Pháp lại muốn duy trì ách thống trị đối với Việt Nam cũng như toàn cõi Đông Dương. Do đó nhân dân ta buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tại vùng tự do, các trường học tiếp tục hoạt động. Để tạo nguồn đào tạo cán bộ phục vụ kháng chiến và xây dựng đất nước sau ngày kháng chiến thắng lợi, năm 1950, chính phủ chính thức thông qua đề án cải cách giáo dục. [5]
Mục tiêu đào tạo của nhà trường khi đó được xác định là: giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người công dân lao động tương lai, trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, có đủ năng lực phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. [5] Để phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nội dung chủ yếu của cuộc cải cách lần này là thay đổi cơ cấu giáo dục phổ thông (rút bớt số năm học) và điều chỉnh quan hệ giữa các bộ phận của hệ thống giáo dục để thống nhất với sự thay đổi đó. Theo đó, cơ cấu giáo dục phổ thông gồm 3 cấp, thực hiện trong 9 năm: cấp I có 4 lớp, không kể lớp vỡ lòng (học đọc và viết chữ Việt); cấp II có 3 lớp; cấp III có 3 lớp. [5] Về nội dung giảng dạy, tạm gác lại một số môn học (như ngoại ngữ, âm nhạc, vẽ, nữ công gia chánh); bổ sung một số môn học mới (như thời sự, chính sách, giáo dục công dân, tăng gia sản xuất). [4] Do chương trình phổ thông tạm rút ngắn, sau khi tốt nghiệp lớp 9, để vào đại học, học sinh phải qua trường dự bị đại học (lúc đầu là 2 năm sau đổi thành 1 năm). Đồng thời, hệ thống giáo dục bình dân và giáo dục chuyên nghiệp cũng thay đổi (sau chương trình xoá mù chữ, có chương trình tiểu học bình dân và trung học bình dân...). Trường đại học y dược, trường đại học khoa học (chủ yếu là văn khoa và toán học) vẫn tiếp tục hoạt động. [5]
Tại vùng tạm chiếm, các trường học giảng dạy, học tập theo một chương trình 12 năm, căn bản dựa trên một chương trình được canh tân bởi một số học giả yêu nước từ đầu năm 1945 (Chương trình Hoàng Xuân Hãn), khi Đông Dương thuộc Pháp bị người Nhật xâm chiếm[3]. Đặc trưng của nền giáo dục ở vùng tạm chiếm là giảm bớt màu sắc của của nền giáo dục thuộc địa, tiếng Việt được thay thế cho tiếng Pháp trong giảng dạy ở giáo dục phổ thông, nhiều nội dung có yếu tố dân tộc đã được đưa vào chương trình. Tuy nhiên, chương trình vùng tạm chiếm vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của nền giáo dục của Pháp.
3. Giáo dục Việt Nam trong những năm đất nước bị tạm thời chia cắt
3.1. Ở  miền Bắc
Sau khi hoà bình được lập lại, trên miền Bắc, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiếp quản giáo dục ở vùng mới giải phóng và tích cực chuẩn bị cho một cuộc cải cách giáo dục (thứ hai)  trong bối cảnh vừa phục hồi kinh tế, xây dựng miền Bắc vừa đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Trong cuộc cải cách giáo dục lần này, mục đích giáo dục được xác định là: đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh thiếu niên thành “những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, cán bộ tốt”. Nhằm mục đích đó, nội dung giáo dục mang tính toàn diện (coi trọng 4 mặt: đức, trí, thể, mỹ) với phương châm: “Liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội”. [5]
Về mặt phương pháp, cuộc cải cách lần này đã xoá bỏ nền sư phạm quyền uy, khai mở quan hệ thầy - trò dân chủ, phát huy tác dụng của các hoạt động ngoại khoá và từng bước đưa hoạt động lao động công ích, lao động sản xuất vào nhà trường, xem đó như là phương thức quan trọng để hình thành nhân cách.
Thông qua cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm tại vùng mới được giải phóng và hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm ở vùng tự do đã được thống nhất thành hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm (cấp I có 4 lớp, cấp II có 3 lớp, cấp III có 3 lớp)[4]. Hệ thống này ít nhiều mô phỏng theo hệ thống giáo dục của Liên Xô lúc đó.
Để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, Chính phủ chủ trương “Tận lực phát triển giáo dục phổ thông”. Đến cuối kỳ kế hoạch 5 năm (1961-1965), mạng lưới trường lớp được mở rộng: phần lớn các xã có trường cấp I; hai hoặc ba xã có một trường cấp II; phần lớn các huyện có trường cấp III. Loại trường vừa dạy tri thức phổ thông, vừa dạy kỹ thuật sản xuất ra đời như trường phổ thông công nghiệp ở thành phố, trường phổ thông nông nghiệp ở nông thôn, trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm ở các tỉnh miền núi. Thực hiện chủ trương của Chính phủ, ở hầu hết các xã trên miền Bắc, nhân dân thành lập “Ban bảo trợ học đường”, huy động sức người, sức của xây dựng các trường cấp I, cấp II, đề cử người ở địa phương làm giáo viên, tự định mức đóng góp để trả lương thầy, từ đó xuất hiện hình thức trường dân lập. Chính phủ quy định: giáo viên dân lập và giáo viên quốc lập hưởng mọi chính sách, chế độ như nhau, chỉ khác tiền lương của giáo viên dân lập do ngân sách địa phương đài thọ, có sự hỗ trợ thích đáng của nhà nước. [5]
Cũng trong thời gian này, bên cạnh các trường đại học Y-Dược, Sư phạm, Tổng hợp, có thêm các trường đại học mới: Nông Lâm, Bách khoa, Kinh tế ..., hệ thống giáo dục đại học được củng cố, hoàn chỉnh một bước nhằm đào tạo đội ngũ trí thức mới. Các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề được thành lập, trong đó đặc biệt quan trọng là những lớp dạy nghề bên cạnh xí nghiệp đã góp phần cung cấp nhân lực cho công cuộc xây dựng miền Bắc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước.
Điều đáng lưu ý là, các trường phổ thông công nghiệp và trường phổ thông nông nghiệp đã có chương trình giảng dạy, học tập giàu tính thực hành, tiếc rằng khi quân đội Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc, các loại trường này không có điều kiện để duy trì.
Song song với việc triển khai cải cách giáo dục ở phổ thông, Chính phủ thành lập Ban lãnh đạo trung ương thanh toán nạn mù chữ, xác định giáo dục bình dân là một bộ phận không thể thiếu trong kế hoạch nhà nước[5] và phát động thực hiện kế hoạch 3 năm thanh toán nạn mù chữ (1956-1958). Kết quả, đến năm 1959 đã có 2.161.362 người đã thoát nạn mù chữ, hầu hết dân cư trong các tỉnh đồng bằng biết đọc, biết viết; đưa tỷ lệ dân số biết chữ trong độ tuổi 12-50 lên 93,4%. [5] Tuy vậy, kết quả xoá mù chữ lần này, cũng như về sau này, không bền vững, do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do chưa thực hiện phổ cập giáo dục cấp I.
Trên cơ sở kết quả xoá mù chữ đã đạt được, hệ thống giáo dục bình dân chuyển trọng tâm sang nâng cao trình độ học vấn của người lớn - người lao động và được gọi là hệ thống bổ túc văn hoá, song hành với hệ thống giáo dục phổ thông. Với phương châm “cần gì học nấy”, hệ thống bổ túc văn hóa rất đa dạng về hình thức tổ chức cũng như về chương trình học. Hình thức học tập tại chức có loại trường/ lớp dành cho đối tượng công tác tại cơ quan, xí nghiệp, có loại trường/ lớp dành cho đối tượng là nông dân. Hình thức học tập tập trung có trường phổ thông lao động (dành cho cán bộ quản lý), trường bổ túc văn hóa công nông dành cho những người lao động trẻ tuổi để đưa vào đại học nhằm đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật xuất thân từ công nông. Mỗi loại hình trường/ lớp lại có chương trình và sách giáo khoa (hoặc tài liệu học tập riêng) nhằm “phù hợp với đối tượng và mục tiêu đào tạo”. [5]
Song song với việc mở các trường bổ túc văn hóa tập trung, ở miền Bắc còn có các trường học sinh miền Nam để nuôi, dạy con em các cán bộ miền Nam. Nhiều học sinh tốt nghiệp các trường bổ túc công nông và trường học sinh miền Nam đã được tuyển vào đại học trong và ngoài nước, về sau trở thành nguồn cán bộ quản lý ở miền Nam sau ngày giải phóng, trong đó có một số trở thành những trí thức có tên tuổi hoặc nhà lãnh đạo của địa phương hoặc của cả nước.
Trong thời gian không quân Mỹ tấn công miền Bắc (1965-1972), nhà trường cũng trở thành mục tiêu bắn phá. Chỉ trong 4 năm đầu của cuộc chiến tranh bằng không quân của Mỹ, đã có 1.558 ngôi trường bị phá huỷ. Trong đó có: 1.334 trường cấp I, 179 trường cấp II, 38 trường cấp III, 7 trường đại học.[6] [5] Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, phương hướng hoạt động giáo dục đã được Chính phủ xác định là: tiếp tục phát triển, bảo đảm an toàn cho học sinh, gắn hơn nữa hoạt động của nhà trường với đời sống, sản xuất và chiến đấu. Trường, lớp từ giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học được sơ tán ra khỏi thành phố, thị xã, các đầu mối giao thông và những điểm tập trung dân cư lớn, tiếp tục duy trì hoạt động dạy và học. Thành công lớn nhất trong thời gian này là, nhà trường ở tất cả các cấp đã giáo dục, rèn luyện được một thế hệ thanh thiếu niên sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ công dân trong thời chiến, góp phần tạo ra một hệ thống giá trị về tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và niềm tin vào lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
3.2. Ở miền Nam
Trong thời kỳ 1954-1975, ở vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, cũng như về sau này ở vùng giải phóng, hoạt động giáo dục vẫn diễn ra để đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và đảm nhiệm chức năng đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, hoạt động giáo dục ở hai vùng có đặc điểm riêng, thậm chí đối nghịch nhau.
 vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, nền giáo dục chuyển dần từ chỗ chịu tác động và ảnh hưởng của nền giáo dục Âu Pháp sang chịu tác động và ảnh hưởng của nền giáo dục Bắc Mỹ. Hệ thống giáo dục phổ thông trải qua một vài lần thay đổi, song vẫn theo cơ cấu khung: tiểu học (5 năm), trung học cấp thấp (4 năm), trung học cấp cao (3 năm) gồm nhiều ban. Giáo dục đại học vẫn có thiên hướng hàn lâm nhiều hơn thực hành, tập trung vào vào các ngành khoa học cơ bản, luật, kinh tế, hành chính. Các trường đại học thuộc các ngành này phát triển nhanh hơn các trường kỹ thuật, công nghệ, nông - lâm - súc. Mặt khác, tiếp xúc với nền giáo dục Bắc Mỹ, một số nhà giáo dục cũng đã học tập, tiếp thu được một số kinh nghiệm giáo dục Hoa Kỳ, trên cơ sở đó đề xuất một số sáng kiến góp phần canh tân giáo dục nhất là về xây dựng chương trình và phương pháp dạy học. Điều đặc biệt là, suốt trong thời gian đô thị miền Nam nằm trong sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, mặc dù chịu tác động và ảnh hưởng  của  nền giáo dục Bắc Mỹ, tuổi trẻ học đường vẫn duy trì tinh thần phản kháng và đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc. [5]
Ở  vùng giải phóng, Bộ Giáo dục trong Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đã ban hành chương trình phổ thông 12 năm, với loại sách giáo khoa khác hẳn sách giáo khoa dùng trong vùng tạm chiếm, thể hiện rõ rệt tinh thần yêu nước, chống xâm lược và tay sai. Bộ chương trình và sách giáo khoa này có nhiều cải tiến cả về nội dung và phương pháp so với chương trình và sách giáo khoa 10 năm ở miền Bắc. [5]
4. Giáo dục Việt Nam từ 1975 đến 1986
4.1. Trong những năm đầu thống nhất đất nước
Tháng 4-1975, cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn. Sau ngày chiến thắng, đối với lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh miền Nam, Chính phủ tập trung vào hai nhiệm vụ: (i) Xoá bỏ tàn dư của nền giáo dục cũ; (ii) Thực hiện xoá mù chữ cho nhân dân trong độ tuổi 12-50.
Về nhiệm vụ thứ nhất, Bộ Giáo dục đã khẩn trương xây dựng và ban hành hành chương trình 12 năm mới, biên soạn và in 20 triệu bản sách giáo khoa theo chương trình đó để thay thế sách giáo khoa cũ ở miền Nam. Hầu hết giáo viên của chế độ cũ được tuyển dụng lại; đồng thời, thực hiện công lập hoá trường tư thục[7], tách nhà trường ra khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, đưa dần toàn bộ trường tư vào sự quản lý của nhà nước. [5]
Về nhiệm vụ thứ hai, Chính phủ chủ trương nhanh chóng xoá nạn mù chữ và đẩy mạnh bổ túc văn hoá, xem đó là nhiệm vụ cấp bách số một. Một lần nữa, hoạt động xoá nạn mù chữ trở thành một biểu hiện của lòng yêu nước, thu hút hàng triệu người tham gia giảng dạy, học tập hoặc giúp đỡ người học. Đầu năm 1978, tất cả các tỉnh và thành phố miền Nam đã căn bản xoá nạn mù chữ. Trong tổng số 1.405.870 người đã được xác định không biết chữ, đã có 1.323.670 người thoát nạn mù chữ, đạt 94,14% kế hoạch. [5]
4.2. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba
Trong khi thực hiện những nhiệm vụ khẩn cấp trước mắt đối với giáo dục miền Nam và tiếp tục phát triển giáo dục ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ cũng khẩn trương chuẩn bị cho một cuộc cải cách giáo dục nhằm tiến tới một nền giáo dục quốc dân thống nhất phù hợp với chiến lược tái thiết và phát triển đất nước.
   Ngày 11-1-1979, Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, [5] [7] theo đó, những định hướng có tính nguyên tắc cho cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này là:
Về mục tiêu giáo dục: Chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu cho con người phát triển toàn diện; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân nhằm tạo điều kiện thực hiện 3 cuộc cách mạng (về quan hệ sản xuất, về khoa học - kỹ thuật và về văn hoá - tư tưởng); đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ lao động phù hợp yêu cầu phân công lao động xã hội. [5] [7]
Về nội dung giáo dục, hướng vào việc “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện [đức, trí, thể, mỹ], tạo ra những lớp người lao động mới làm chủ tập thể, đủ sức gánh vác sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân …” [5] [7]
Về nguyên lý giáo dục, yêu cầu học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, nhà trường gắn liền với xã hội. [5] [7]
Về hệ thống giáo dục, thay thế hệ thống phổ thông 12 năm ở miền Nam và hệ thống 10 năm ở miền Bắc bằng một hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm mới, trong đó, trường cấp I và trường cấp II được sáp nhập thành trường phổ thông cơ sở (chín năm), đồng thời chuẩn bị phân ban ở trung học phổ thông. Nhiều trường đại học chuyên ngành được xây dựng và phát triển. [5] [7]
Đồng thời với việc ra nghị quyết xác định phương hướng cải cách giáo dục, Bộ Chính trị cũng đã quyết định thành lập Uỷ ban Cải cách giáo dục của Trung ương và Chính phủ. [7] Tổ chức này có ba nhiệm vụ:
- Chỉ đạo nghiên cứu và xây dựng các đề án về chủ trương, kế hoạch và biện pháp thực hiện;
   - Kiểm tra, đôn đốc các ngành, các địa phương;                                                                        - Chuẩn bị dự luật cải cách để trình Quốc hội. [7]
Cuộc cải cách giáo dục lần này được triển khai bắt đầu từ năm học 1981-1982. Việc thay sách giáo khoa ở các cấp học phổ thông, một nhiệm vụ quan trọng nhất của cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba, đã hoàn thành vào năm 1996, tạo ra sự thống nhất về giáo dục phổ thông trong cả nước. [4] Riêng về nội dung giáo dục, so với các chương trình giảng dạy và học tập trước đó, chương trình cải cách mang nhiều yếu tố hiện đại hơn, do đó tạo ra tiền đề chất lượng giáo dục có thể đạt tới trình độ cao hơn trước.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, cuộc cải cách lần này đã gặp rất nhiều khó khăn và bộc lộ một số hạn chế. Hạn chế lớn nhất là, mục tiêu và giải pháp thiếu tính khả thi, như muốn phát triển quy mô lớn, muốn bao cấp về giáo dục cho mọi đối tượng, muốn phổ cập giáo dục toàn dân,... Trong khi đó lại thiếu sự chuẩn bị về nguồn lực và sự thực không thể bảo đảm về nguồn lực do chiến tranh biên giới và kinh tế suy thoái. Một ví dụ cụ thể về giải pháp thiếu tính khả thi của cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba, biểu hiện của cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, là việc sáp nhập trường cấp I và cấp II thành trường phổ thông cơ sở (chín năm). Vì các điều kiện thực tế không cho phép (đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý không đủ năng lực; trường sở, thiết bị thiếu thốn ...) nên những trường đã sáp nhập sau một thời gian đều phải tách trở lại. [5] [9] Về mặt quan niệm, tư tưởng bao cấp nặng nề, nhấn mạnh giáo dục là “phúc lợi xã hội” đã cản trở sự phát triển giáo dục. Với quan niệm đó, khi xây dựng dự toán ngân sách nhà nước, kinh phí giáo dục chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ sau khi đã ưu tiên bố trí cho các khu vực khác. Đối với người dân, từ đó sinh ra tư tưởng ỷ lại, xem chi phí học hành của con em, ngay cả học nghề hay học đại học, cũng dựa vào sự bao cấp của nhà nước. Tư tưởng này hoàn toàn không phù hợp với một nước nghèo và chậm phát triển như Việt Nam, nhất là trong bối cảnh sau một cuộc chiến tranh kéo dài, kinh tế khủng hoảng. [9]
5. Giáo dục Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX
5.1. Chặng đầu đổi mới
Thách thức lớn nhất trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước mà giáo dục Việt Nam phải đối diện là: Nhà nước không đủ điều kiện cung ứng tài chính, lại mất đi một chỗ dựa quan trọng là nền kinh tế tập thể, giáo dục lâm vào tình trạng thiếu hụt nguồn lực nghiêm trọng. Các trường phổ thông thiếu kinh phí hoạt động, chính quyền địa phương nợ lương giáo viên, thầy bỏ dạy, trò bỏ học, qui mô và chất lượng giáo dục đều giảm sút. Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cũng không đủ ngân sách tối thiểu cần thiết để duy trì các hoạt động bình thường. Học sinh trung học chuyên nghiệp và sinh viên đại học ra trường không có việc làm, giảng viên theo đuổi những công việc xa lạ với nghề nghiệp để có thêm thu nhập. Bị trói buộc trong cơ chế cũ, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp thiếu hẳn điều kiện về nguồn lực và khả năng tự quản. [9]
Để đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng, Đại hội lần thứ VI của Đảng CSVN (tháng 12-1986) đã chủ trương đổi mới kinh tế- xã hội, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI, đối với lĩnh vực giáo dục, điều căn bản là phải điều chỉnh những quan niệm và giải pháp không còn thích hợp, mạnh dạn đề xuất và thực hiện những giải pháp mới nhằm chặn đà suy thoái, ổn định tình hình, củng cố hệ  thống, tạo thế và lực để tiếp tục phát triển. Phương hương và giải pháp đổi mới giáo dục lúc đó là: xã hội hoá, dân chủ hoá, đa dạng hoá, hiện đại hoá; vận động xã hội, gia đình và nhà trường cùng chăm sóc thế hệ trẻ. [5] [9] Theo phương hướng đó, ngành giáo dục đã nỗ lực duy trì, củng cố, tiếp tục phát triển nền giáo dục quốc dân, tập trung chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, xem đội ngũ là yếu tố quyết định hàng đầu trong việc thực hiện chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Đối với giáo dục phổ thông, định hướng đổi mới là: Tiếp tục triển khai đồng thời điều chỉnh cải cách giáo dục về mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa và cả về quan niệm, cách làm giáo dục. Từng bước thực hiện chất lượng toàn diện theo cách làm và mức độ phù hợp từng loại đối tượng, từng loại trường và từng địa phương; gắn giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp. Tiếp tục khẳng định mạnh mẽ trách nhiệm của nhà nước, đồng thời thực hiện xã hội hoá giáo dục. Trong khi xã hội hóa nguồn lực, điều quan trọng là khắc phục tâm lý ỷ lại và thái độ khoán trắng cho nhà nước. [5] [9]
Một số giải pháp được triển khai nhằm thực hiện định hướng đổi mới giáo dục phổ thông lúc đó là: Chính phủ cho phép thu học phí ở tất cả các cấp học, trừ tiểu học vì là cấp phổ cập; cho phép tổ chức trường/lớp tư thục ở giáo dục tiền học đường; các trường/lớp bán công, dân lập ở tất cả các bậc học phổ thông. Ngành giáo dục tiến hành phân hoá việc giáo dục theo trình độ của đối tượng, phát triển các trường chuyên cấp II, cấp III dành cho học sinh có năng khiếu, lớp chọn trong các trường cấp II, cấp III bình thường dành cho học sinh học giỏi (trường chuyên, lớp chọn không tổ chức ở bậc tiểu học vì phòng ngừa chặn tình trạng quá tải, tránh nguy cơ dẫn trẻ đến chỗ phát triển phiến diện). Đẩy mạnh thí điểm chương trình trung học chuyên ban, chuẩn bị triển khai đại trà nhằm thực hiện phân hóa quá trình giáo dục theo trình độ, năng lực và nguyện vọng của học sinh và để phân luồng trong giáo dục. Thực hiện giáo dục kỹ năng lao động và hướng nghiệp bằng cách liên kết giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp. Đối với bậc tiểu học, cùng với việc hoàn thiện từng bước chương trình cải cách hiện hành, đã thêm chương trình dành riêng cho con em các dân tộc ít người, chương trình tối thiểu áp dụng trong các lớp học linh hoạt dành cho những trẻ em vì điều kiện kinh tế không thể đến trường chính qui. [5] [9] Rút kinh nghiệm của các chiến dịch xoá mù chữ trước đây, Chính phủ lập Uỷ ban quốc gia chống nạn mù chữ, gắn nhiệm vụ chống nạn mù chữ với phổ cập giáo dục tiểu học.
Đối với giáo dục đại học và dạy nghề, chuyển từ đào tạo cho kinh tế quốc doanh và tập thể sang đào tạo cho xã hội nhiều thành phần kinh tế và đáp ứng nhu cầu học tập của thanh niên; khai thác và sử dụng mọi nguồn tài chính; tự lực xây dựng và thực hiện các chỉ tiêu ngoài kế hoạch nhà nước; đào tạo theo nhiều loại chương trình. Một số giải pháp: yêu cầu người học đóng học phí và tự túc trong thời gian học tập; cho phép và khuyến khích mở trường/lớp dạy nghề tư thục và mở trường đại học dân lậpcấu trúc lại chương trình đào tạo (theo mô đun kỹ năng - MES ở dạy nghề, theo ngành rộng và chia thành hai giai đoạn ở đại học); từ đào tạo theo niên chế chuyển sang đào tạo theo học phần; cải tiến quy trình kiểm tra, đánh giá, thi cử theo hướng “mở rộng đầu vào, sàng lọc trong quá trình đào tạo, kiểm soát chặt chẽ ở đầu ra”; trao quyền tổ chức kỳ thi cho các trường và cho thí sinh dự thi ở nhiều trường; thí điểm đào tạo kỹ thuật viên bậc cao; đổi mới mô hình tổ chức và sắp xếp lại mạng lưới, thí điểm các hình thức trung học nghề và trung học kỹ thuật; hình thành đại học, cao đẳng kiểu mới (đại học gồm nhiều trường thành viên, đại học mở, cao đẳng cộng đồng, đại học bán công/tư thục/dân lập ...); tăng chức năng quản lý nhà nước bằng luật pháp, giảm hoạt động tác nghiệp về chuyên môn đào tạo ở Bộ; coi trọng quyền tự chủ của nhà trường; cho phép các trường liên kết đào tạo và liên kết với các cơ sở nghiên cứu/ các doanh nghiệp. [5] [9]
Nhờ định hướng đúng đắn, sau mười năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục đã phát triển và đạt kết quả đáng kể. Vào năm học 1993-1994, qui mô giáo dục ở tất cả các bậc học từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học đã được mở rộng, vượt năm cao nhất của thời kỳ trước đổi mới.
Riêng ở bậc tiểu học, tỷ lệ bỏ học giảm từ 12,7% vào năm 1989-1990 xuống 6,58%[8] và tỷ lệ lưu ban giảm từ 10,6% vào năm 1989-1990 xuống 6,18%. Đến giữa những năm 90 (của thế kỷ trước), tổng số học sinh tiểu học là trên 10 triệu, số học sinh trung học cơ sở là 3,7 triệu, số học sinh trung học phổ thông là 86 vạn. [9] [19] Sau 5 năm, các địa phương đã vận động hơn 1,7 triệu trẻ em thất học đến lớp trong đó có 200 nghìn em đã đạt được chuẩn phổ cập, hàng trăm nghìn trẻ em bỏ học đã quay trở lại nhà trường; hơn 1,2 triệu người lớn đi học xoá mù chữ trong đó gần nửa triệu đã biết chữ ở trình độ tương đương lớp 3. [9] [9] [19]
Về giáo dục nghề nghiệp, lưu lượng học sinh học nghề ngắn hạn đã tăng từ 95.500 (1993) lên 128.700 (1994). [9] [19] Chương trình trung học nghề đã được 50 trường tổ chức thực hiện, nhiều học sinh tốt nghiệp đã ra làm việc tại các cơ sở kinh tế[10]. Việc thí điểm đào tạo kỹ thuật viên cấp cao đã thực hiện ở 6 trường trung học chuyên nghiệp thuộc các ngành bưu chính viễn thông, kỹ thuật công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải, kỹ thuật mỏ, hoá chất và văn hoá nghệ thuật. Khó khăn lớn là về tổ chức quá trình đào tạo (thiếu giáo viên nên phải dạy dồn, một giáo viên dạy nhiều môn ....), lại thiếu cơ sở thực nghiệm cho các môn học nên không đảm bảo chất lượng đào tạo cao đẳng.... Việc đào tạo theo mô đun kỹ năng hành nghề (MES) đã được triển khai ở 15 nghề, trong đó đã biên soạn theo và xuất bản 5 bộ tài liệu dạy và học theo MES cho 5 nghề để áp dụng rộng rãi. Một số trường dạy nghề đào tạo dài hạn thuộc lĩnh vực xây dựng, bưu chính viễn thông cũng đang bắt đầu áp dụng phương thức đào tạo theo mô đun. [9] [19]
Về giáo dục đại học, các trường đi dần đến chỗ ổn định, từng bước tăng quy mô, giảng viên có thêm thu nhập bằng các hoạt động nghề nghiệp của mình. Trong mạng lưới trường đại học, cao đẳng, đã 5 đại học đa lĩnh vực lớn được xây dựng ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh,  Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng; có thêm một số nhiều đại học ngoài công lập. Quan hệ quốc tế được mở rộng, đội ngũ lãnh đạo, giáo sư, giảng viên có điều kiện học hỏi, trao đổi với các đồng nghiệp nước ngoài về những vấn đề học thuật.
Mặc dù đã vượt qua những thách thức gay gắt ở giai đoạn đầu đổi mới, nhưng có một số giải pháp nêu ở trên gặp khó khăn trong thực hiện, không phát huy được tác dụng tích cực hoặc bị biến dạng trong thực tế, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh. Tháng 12-1996, Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VIII Đảng CSVN đã đánh giá kết quả mười năm đổi mới giáo dục, đề ra định hướng chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xác định nhiệm vụ giáo dục trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX. [7] Một số giải pháp ở giai đoạn đầu đã được điều chỉnh như: không mở lớp chọn ở các cấp giáo dục phổ thông và không mở trường chuyên ở trung học cơ sở; không quy định cứng nhắc, đồng loạt về hai giai đoạn và bỏ kỳ thi chuyển giai đoạn ở đại học; chuẩn bị kỹ hơn cho việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa ở phổ thông đặc biệt là vấn đề phân ban ở trung học phổ thông; không tiếp tục phát triển trung học nghề v.v... [7] [19]
Trong hơn mười năm (1996-2005), quy mô giáo dục tiếp tục tăng, tổng số học sinh, sinh viên từ 20 triệu (năm 1996), đã tăng lên 23 triệu (năm 2005). Công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở tiến triển tốt. Năm học 2004-2005, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi tham gia tiểu học là 98,0%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học học tiếp lên lớp 6 là 98,5%; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi tham gia trung học cơ sở là 84,0%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học lớp 10 là 77,1%. [9] [19] Mạng lưới trường lớp tiếp tục phát triển, về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu học tập tiểu học và trung học cơ sở cho trẻ em. Chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa mới được triển khai từ năm học 2002-2003, đã hoàn tất vào năm học 2008-2009, tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng giáo dục. Chỉ tính trong năm năm gần đây, đã có hơn 5,3 triệu người đã được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề trong đó 2/3 là đào tạo dài hạn. Tốc độ tăng quy mô ở trung học chuyên nghiệp tăng bình quân 14,7%/năm. [9] [19] Về giáo dục đại học, từ 1998 đến 2004, quy mô đại học, cao đẳng tăng từ 760 nghìn sinh viên lên hơn 1,3 triệu, tốc độ tăng bình quân 6,4%/năm. [9] [19] Giáo dục không chính quy được đẩy mạnh, mạng lưới trung tâm  giáo dục thường xuyên phủ khắp các quận huyện trong cả nước, số lượng trung tâm học tập cộng đồng đã được phát triển ở quá nửa số xã phường. Cùng với sự phát triển đáng kể về quy mô, việc cung ứng một cách công bằng về cơ hội giáo dục đã có bước tiến bộ quan trọng. Khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục giữa các nhóm dân tộc được thu hẹp. Số lượng học sinh con em dân tộc thiểu số ở trung học cơ sở tăng bình quân 7,3%/năm, ở trung học phổ thông tăng bình quân 26,1%/năm. [9] [19]

II. CƠ CẤU QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

Khái niệm quản lý được đề cập ở đây bao gồm cả quản lý nhà nước và quản lý chuyên môn. Quản lý nhà nước, ở cấp vĩ mô, gồm: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách giáo dục; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục ... [12]
Theo Luật Tổ chức chính phủ, Luật Giáo dục và sự phân công của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý nhà nước về giáo dục tiền học đường, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và một phần giáo dục nghề nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp); Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý giáo dục nghề nghiệp (trừ trung cấp chuyên nghiệp).
Theo Luật Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Giáo dục và theo sự phân cấp của chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước, bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương; đồng thời, kiểm soát các trường ngoài công lập trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Phạm vi quản lý trong lĩnh vực giáo dục của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và uỷ ban nhân dân cấp huyện được phân định như sau: cấp tỉnh quản lý các trường trung học phổ thông, các trường trung cấp và trường dạy nghề, các trường cao đẳng của tỉnh, các trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh ...; cấp huyện quản lý các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm dạy nghề của huyện,... Cơ quan chuyên môn giúp uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý về giáo dục là sở giáo dục và đào tạo; cơ quan chuyên môn giúp uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý về giáo dục là phòng giáo dục và đào tạo.



                                                Sơ đồ cơ cấu quản lý giáo dục Việt Nam

III. HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Cơ cấu hệ thống - Mạng lưới nhà trường
Đối với cơ cấu hệ thống giáo dục, có nhiều cách xác định khác nhau. Ở đây, khái niệm cơ cấu hệ thống chỉ giới hạn trong phạm vi phân chia cấp lớp/ trình độ đào tạo kèm theo đó là một số chú ý về phương thức giáo dục, loại hình trường và việc phân bố trường/ lớp trên các địa bàn (thường được gọi là mạng lưới trường/ lớp).
* Về cơ cấu hệ thống giáo dục. Luật giáo dục 2005 quy định tại Điều 4
- “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”. Như vậy, giáo dục thường xuyên vừa có thể hiểu như một phương thức giáo dục, vừa có thể xem là một tiểu hệ thống/ phân hệ của hệ thống giáo dục quốc dân.
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Giáo dục mầm non, có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông, có 3 cấp học: tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5), trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9), trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12);
c) Giáo dục nghề nghiệp, gồm 3 trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp (trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề), cao đẳng;
d) Giáo dục đại học, gồm 4 trình độ đào tạo: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
* Về mạng lưới trường/ lớp, theo nguyên tắc phân bố trường gần dân, đến nay trên các địa bàn dân cư đều có các cơ sở giáo dục. Cụ thể là:
Mỗi xã, phường hoặc thị trấn đều có ít nhất một cơ sở giáo dục mầm non, một trường tiểu học, một trường trung học cơ sở hoặc một trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở (hình thức này chỉ có ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn); phần lớn các xã có trung tâm học tập cộng đồng.
Mỗi quận, huyện, thị xã hoặc thành phố thuộc tỉnh đã có một hoặc một số trường trung học phổ thông, có một trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện. Các thị xã, các quận và nhiều huyện đã có trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp. Các huyện miền núi, hải đảo đều có một trường trung học cơ sở nội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số[11] và trường phổ thông có nhiều cấp học.
Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có một trường trung học phổ thông chuyên dành cho học sinh xuất sắc trong việc học tập một trong các các môn học, có trường trung cấp hoặc/và một trường cao đẳng (junior college), một trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh. Các tỉnh miền núi và các tỉnh có nhiều huyện miền núi đều có trường trung học phổ thông nội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số. Một số tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương còn có trường năng khiếu nghệ thuật, trường năng khiếu thể dục-thể thao và trường dành cho người khuyết tật, tàn tật.
- Các trường đại học tập trung ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố như Hải Phòng, Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ ... Ngoài ra, hầu như mỗi tỉnh đều có trường cao đẳng hoặc trường đại học.
2. Giáo dục mầm non và việc thực hiện quyền trẻ em:
Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ mười hai tháng tuổi đến sáu tuổi. Mục tiêu giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, ngôn ngữ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1. [12] Cơ sở giáo dục mầm non gồm nhà trẻ (tiếp nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến ba tuổi) và trường mẫu giáo (tiếp nhận trẻ từ ba tuổi đến năm tuổi). 
Chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước là bảo đảm các quyền của trẻ em được quy định trong Luật Giáo dục và Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Cụ thể là:
- Trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, ngôn ngữ, thẩm mỹ phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi.
- Trẻ em được chăm sóc sức khoẻ ban đầu và khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.
- Trẻ em được giảm phí đối với các dịch vụ vui chơi, giải trí.                        
Việc thành lập các nhà trẻ nhằm mục đích giúp các bà mẹ có nơi gửi con để đi làm và tham gia hoạt động xã hội, góp phần tạo điều kiện thực hiện sự bình đẳng về giới.
Về mặt quản lý nhà nước, các cơ sở giáo dục mầm non hoặc do Uỷ ban nhân dân cấp huyện thành lập (cơ sở công lập), hoặc do cộng đồng xã, phường thành lập (cơ sở dân lập), hoặc do tư nhân thành lập (cơ sở tư thục).
- Các cơ sở giáo dục mầm non công lập chỉ được thành lập tại các xã thuộc địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng cư trú của các dân tộc thiểu số.
- Các cơ sở giáo dục mầm non dân lập chủ yếu được thành lập tại nông thôn. Dân cư trong cộng đồng đóng góp xây dựng trường sở, mua sắm thiết bị và bảo đảm kinh phí hoạt động, chính quyền địa phương có trách nhiệm hỗ trợ về nguồn lực.
- Chính phủ khuyến khích tư nhân thành lập các cơ sở giáo dục tiền học đường tư thục. Các trường này được hưởng các chính sách ưu đãi như được giao hoặc cho thuê đất, được giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất, được hưởng ưu đãi về thuế và tín dụng. 
Về quy mô giáo dục mầm non, trong năm học 2007-2008, cả nước có 3.057.718 trẻ em được bố mẹ gửi vào 11.620 cơ sở giáo dục mầm non; trong đó có 5.678 cơ sở giáo dục mầm non công lập tiếp nhận 1.336.824 trẻ em, 5.942 cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tiếp nhận 1.720.894 trẻ em. [13] [19]
* Mục tiêu phát triển của giáo dục mầm non đến 2010 là:
- Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em trước 6 tuổi. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong các cơ sở giáo dục tiền học đường xuống dưới 15%[12].
- Mở rộng hệ thống nhà trẻ, trường mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn và vùng khó khăn để hệ thống này có thể thu hút 18% trẻ em dưới 3 tuổi, 67% trẻ em trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Phổ cập trẻ 5 tuổi, tích cực thu hút 95% - 100% [13] trẻ 5 tuổi đến trường để chuẩn bị cho các em có kỹ năng vào học lớp một.
- Tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức, tuyên truyền và tư vấn cho các bậc ông bà, cha mẹ về nuôi dạy trẻ em theo khoa học. [15]
3. Giáo dục tiểu học 
Cấp tiểu học gồm 5 lớp, thu nhận trẻ em từ 6 tuổi. Như vậy, nếu trẻ không lưu ban, bỏ học thì đến 11 tuổi sẽ tốt nghiệp tiểu học.
Mục tiêu giáo dục của cấp tiểu học là giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở. [12] Trong chương trình tiểu học hiện hành, ở lớp 1, lớp 2 và lớp 3 có 6 môn học là : Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên và xã hội, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật ( Mỹ thuật, Âm Nhạc); trong đó, chỉ có Tiếng Việt và Toán có sách giáo khoa (để học sinh sử dụng), bốn môn còn lại có tài liệu hướng dẫn giảng dạy (để giáo viên sử dụng); ở lớp 4 và lớp 5 có 7 môn học là: Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý, Khoa học, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật; trong đó, bốn môn có  sách giáo khoa là Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý, Khoa học, các môn học còn lại có tài liệu hướng dẫn giảng dạy. [14] Ngoài ra, cần đưa dần chương trình tin học vào tiểu học để bổ sung các kỹ năng cơ bản cho học sinh lên cấp học cao hơn.
Năm học 2007-2008, cả nước có 14.939 trường tiểu học với 6.832.567 học sinh. Số trường công lập là 14.844 với 6.832.218 học sinh. Số trường ngoài công lập là 95 với 18.349 học sinh. [13] [19] Trong những năm gần đây, số học sinh tiểu học giảm liên tục.17 Bên cạnh tình trạng học sinh bỏ học, nhiều nhà phân tích cho rằng hiện tượng này là kết quả của việc giảm tỷ lệ tăng dân số (nhân khẩu trong độ tuổi 6-11 giảm) và việc trẻ em đi học đúng độ tuổi (trước đây quy mô cấp tiểu học lớn hơn dân số trong độ tuổi 6-11).
Thực hiện quy định của Luật phổ cập giáo dục tiểu học 1991, mọi trẻ em chậm chất là đến 14 tuổi đều phải tốt nghiệp tiểu học, hơn chục năm trở lại đây, ngày 5-9 được lấy làm ngày toàn dân đưa trẻ em đến trường với mục tiêu vận động tất cả các gia đình có con lên 6 đều đưa vào học lớp một. Năm 2000, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi 6-11 đi học là 95%; năm  học 2004-2005 tỷ lệ đó là hơn 98%. [19]
Mục tiêu phát triển của giáo dục tiểu học đến 2010 là: Thực hiện phổ cập giáo dục đúng độ tuổi (thu hút 99% trẻ em trong độ tuổi đi học, giảm thiểu tỷ lệ lưu ban, bỏ học), nâng cao chất lượng và hiệu quả, tiến tới thực hiện dạy và học 2 buổi/ ngày, đưa ngoại ngữ vào học từ lớp 3, giảm tỷ lệ hs/gv và quy mô các lớp học. [13]


Sơ đồ hệ thống giáo dục Việt Nam

4. Giáo dục trung học:  
Giáo dục trung học có hai cấp: cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông.
Trung học cơ sở gồm 4 lớp (từ lớp 6 đến lớp 9). Mục tiêu giáo dục của cấp trung học cơ sở là củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, hoặc học nghề (trung cấp chuyên nghiệp/ trung cấp nghề), hoặc đi vào cuộc sống lao động. [12]
Trung học phổ thông gồm 3 lớp (từ lớp 10 đến lớp 12). Mục tiêu giáo dục của cấp trung học phổ thông là giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, hoặc học lên đại học, cao đẳng, hoặc học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. [12]
Năm học 2007-2008, cả nước có 10.491 trường trung học cơ sở với 5.791.229  học sinh; trong đó, số trường công lập là 10.458 với 5.791.229 học sinh và số trường ngoài công lập là 33 với 68.297 học sinh. Cũng trong năm học này, số trường trung học phổ thông là 2.476 với 3.070.023 học sinh; trong đó, số trường công lập là 1.826 với 2.238.141 học sinh và số trường ngoài công lập là 831.882 học sinh. [13] [19]
Tại các tỉnh có đông người dân tộc thiểu số (tỉnh miền núi và tỉnh có huyện miền núi) trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông có một số trường nội trú. Theo thống kê năm 2005, tổng số trường nội trú dành cho con em dân tộc thiểu số là 325; trong đó có 11 trường dân tộc nội trú trung ương với 4.400 học sinh; 48 trường tỉnh (trung học phổ thông) với khoảng 20 nghìn học sinh; và 266 trường huyện (trung học cơ sở) với khoảng 60 nghìn học sinh. [9] [19]
Triển khai chương trình phân ban ở trung học phổ thông là một nội dung đổi mới quan trọng ở giáo dục phổ thông. Từ năm học 2006-2007, cấp trung học phổ thông có ba ban: (i) Ban cơ bản, (ii) Ban khoa học tự nhiên, (iii) Ban khoa học xã hội và nhân văn. Chương trình của cả ba ban đều gồm các môn học: Văn học, Lịch sử, Địa lý, Toán học, Vật lý, Hoá học, Ngoại ngữ, Chính trị và Giáo dục công dân, Thể dục thể thao... Yêu cầu của ban cơ bản chính là chuẩn kiến thức và kỹ năng (nghĩa là yêu cầu tối thiểu cần thiết) đối với tất cả các môn học thuộc chương trình của cấp học. Yêu cầu của Ban khoa học tự nhiên là nâng cao đối với bốn bộ môn: Toán, Vật lý, Hoá học và Sinh học. Yêu cầu của ban khoa học xã hội và nhân văn là nâng cao đối với bốn bộ môn: Văn học, Lịch sử, Địa lý và Ngoại ngữ. [14]
Đối với một trường, việc giảng dạy, học tập theo mấy ban, là ban nào tuỳ thuộc sự lựa chọn của hiệu trưởng/ hội đồng nhà trường sau khi báo cáo và được giám đốc sở giáo dục và đào tạo đồng ý. Đối với những trường chọn ban cơ bản thì để tăng cường khả năng lựa chọn của học sinh, nhà trường có thể có tổ chức thực hiện các chương trình tự chọn đối với các môn học được nâng cao ở hai ban: Ban khoa học tự nhiên (và toán), Ban khoa học xã hội và ngoại ngữ.
* Mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông đến năm 2010 là: Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; thu hút 99% trẻ em trong độ tuổi 11-15 đi học trung học cơ sở, 50% trẻ em trong độ tuổi 15-18 đi học trung học phổ thông; giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học; bảo đảm tất cả học sinh đều được học một ngoại ngữ liên tục từ lớp 6 đến lớp 12. [15]
5. Giáo dục nghề nghiệp - trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
Mục tiêu giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có đạo đức và lương tâm, có ý thức kỷ luật và tác phong công nghiệp nhằm tạo điều kiện cho người lao động có thể tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. [12]
Giáo dục nghề nghiệp có ba trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Đào tạo trình độ sơ cấp thực hiện trong thời gian dưới một năm; đào tạo trình độ trung cấp và cao đẳng thực hiện trong thời gian từ một đến ba năm tuỳ theo đặc điểm, yêu cầu nghề nghiệp và trình độ của người học ở đầu vào. [12]
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm các trường trung cấp chuyên nghiệp thuộc quyền quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường dạy nghề và các trung tâm dạy nghề thuộc quyền quản lý của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Theo thống kê năm 2006, trong cả nước có 1.688 cơ sở dạy nghề phân bố ở tất cả các tỉnh, bao gồm 236 trường dạy nghề (tăng gấp đôi so với năm 1998), 404 trung tâm dạy nghề và trên 1.000 các lớp dạy nghề18. [19] [20] Trong hệ thống các trường dạy nghề, ngoài các trường công lập, có trường tư thục, trường có vốn đầu tư của nước ngoài và trường của quân đội để thực hiện việc dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ. Về các trường trung học chuyên nghiệp (thuộc quyền quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo), mặc dầu nhiều trường mạnh lần lượt chuyển thành trường cao đẳng nhưng trong 5 năm (từ 2001 đến 2005) tổng số các trường trung học chuyên nghiệp vẫn tăng. Cụ thể, năm học 2001 có 253 trường đến năm học 2005 có 285 trường, với 283.335 học sinh. Trong đó, có 238 trường công lập và 47 trường tư thục; có trường thuộc các bộ và có trường thuộc địa phương, mỗi tỉnh trung bình có từ 3 đến 5 trường (trừ 3 tỉnh mới thành lập)19. [19] [20]
* Mục tiêu phát triển của giáo dục nghề nghiệp đến năm 2010 là:                         
- Thiết lập hệ thống đào tạo nghề nghiệp thực hành đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công nhân lành nghề, đội ngũ kỹ thuật viên và cán bộ chuyên môn ở trình độ cao đẳng từ những người tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề.
- Thu hút 30% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học các trường trung cấp[14] và 10% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học các cao đẳng nghề. [15]
6. Giáo dục đại học
Giáo dục đại học đào tạo bốn trình độ: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Cụ thể:
Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ 2-3 năm, đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề; 1-2 năm đối với người tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; [12]
Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 4-6 năm đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp; từ 21/2- 4 năm đối với  người tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ 11/2- 2 năm đối với người tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành; [12]
Đào tạo trình độ thạc sĩ thực hiện từ 1-2 năm đối với người tốt nghiệp đại học; [12]
Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong 4 năm đối với người tốt nghiệp đại học; từ 2-3 năm đối với người có bằng thạc sĩ. [12]
Mục tiêu giáo dục của cấp đại học là đào tạo sinh viên thành những người có phẩm chất chính trị, có đạo đức và ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. [12]
Các cơ sở giáo dục đại học của nước ta gồm:
- Các trường cao đẳng (junior college);
- Các trường đại học (university), trong đó có đại học gồm nhiều trường thành viên (colleges), có đại học chỉ có các khoa;
- Các học viện;
Theo thống kê năm 2006, cả nước có 322 trường đại học, cao đẳng với 1.53.846 sinh viên; trong đó có 275 trường công lập với 1.310.375 sinh viên và 193.471 sinh viên. Về đào tạo sau đại học có gần 150 cơ sở với 38.461 học viên cao học20 và 4.518 nghiên cứu sinh21. Tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân là 179. [19]
* Mục tiêu phát triển của giáo dục đại học đến 2010 và 2020 là:
- Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020, trong đó có 70-80% sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng và khoảng 40% sinh viên thuộc các trường ngoài công lập. [17]
- Bảo đảm đến năm 2010 đạt 40% giảng viên đại học, cao đẳng có trình độ thạc sĩ và 25% có trình độ tiến sĩ; tỉ lệ sinh viên/giảng viên của cả hệ thống giáo dục đại học không quá 20. [17]
- Áp dụng các phương thức và công nghệ quản lý hiện đại trong các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông; hình thành trung tâm dữ liệu quốc gia về đào tạo và nghiên cứu khoa học, và hệ thống thư viện điện tử. [17]
- Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả của các hoạt động khoa học công nghệ trong các trường đại học. Các trường đại học lớn phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước. Nguồn thu từ các hoạt động khoa học - công nghệ, sản xuất và dịch vụ đạt khoảng 15% tổng nguồn thu của các trường. Nhà nước dành hơn 1% ngân sách để các trường đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. [17]
- Bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của nhà trường về tất cả các mặt. Bảo đảm vai trò quản lý của nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với các hoạt động của nhà trường. [17]
7. Giáo dục thường xuyên
Trong suốt một thời gian dài, nhân dân ta kiên trì tiến hành công cuộc chống nạn mù chữ, phát triển giáo dục người lớn (lúc đầu là giáo dục bình dân, rồi giáo dục bổ túc và ngày nay là giáo dục thường xuyên). Kết quả là hàng chục triệu người đã thoát khỏi nạn mù chữ. Hàng triệu người, thông qua các lớp bổ túc văn hoá và các khoá đào tạo tại chức mà tiếp tục mở mang sự hiểu biết, vươn tới ánh sáng của tri thức.
Ngày nay, giáo dục thường xuyên có chức năng giúp mọi người vừa làm vừa học, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và tự tạo việc làm, thích nghi với đời sống xã hội. [12]
Trong phạm vi chức năng, giáo dục thường xuyên có các chương trình sau:
- Chương trình xoá mù chữ và sau xoá mù chữ;
- Chương trình giáo dục cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ theo yêu cầu của người học;
- Chương trình đào tạo, đào tạo lại và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
- Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân. [11]
Hệ thống tổ chức thực hiện giáo dục thường xuyên gồm các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện và các trung tâm học tập cộng đồng. Đồng thời các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học cũng tham gia thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên. [12]
Trong năm học 2008-2009, tính chung cả nước có 66 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, 583 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, 24 trường bổ túc văn hoá, 1.300 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 10.997 trung tâm học tập cộng đồng ở xã (thuộc địa bàn nông thôn). [13] [19]
Mục tiêu của giáo dục thường xuyên đến 2010 và 2015 là:
- Nâng cao kết quả xoá nạn mù chữ, tăng tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-35;
- Mở rộng cơ hội học tập cho người lớn, người lao động, giúp mọi người tiếp cận và thụ hưởng các chương trình bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết, khả năng lao động và chất lượng cuộc sống
- Phấn đấu để mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên phủ kín các địa bàn trong cả nước. [13]
1. Chất lượng giáo dục và việc đổi mới chương trình giáo dục
1.1. Đổi mới giáo dục phổ thông
Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được chính thức bắt đầu từ năm 2000[15]. Đến nay, chương trình đã được ban hành và sách giáo khoa mới đã được sử dụng để giảng dạy và học tập ở tất cả các khối lớp ở tiểu học và trung học cơ sở; chương trình trung học phổ thông (phân ban) và sách giáo khoa đi kèm đã được áp dụng từ năm học 2006-2007.
Để có bộ chương trình, sách giáo khoa phổ thông mới, tập thể các nhà giáo, nhà khoa học có uy tín đã phải nghiên cứu, biên soạn theo một quy trình chặt chẽ, trải qua 2 đến 5 năm thí điểm trước khi triển khai chính thức. Số lượng trường tham gia thí điểm là 450 trường tiểu học, 158 trường trung học cơ sở, 48 trường trung học phổ thông ở các địa bàn khác nhau thuộc hơn mười tỉnh. Đối với sách giáo khoa, bản thảo được thẩm định hai vòng (trước khi in làm sách thí điểm và trước khi in làm sách sử dụng chính thức) và tổ chức in thử để xin ý kiến thêm một lần nữa trước khi phát hành.
Theo nhận định chung, việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã quán triệt mục tiêu và các yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các cấp học quy định trong Luật Giáo dục; làm tăng tính thống nhất, kế thừa, phát triển giữa các cấp học; làm tăng tính liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; tạo cơ sở cho việc phân luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân; bảo đảm yêu cầu đồng bộ giữa nội dung và phương pháp, giữa chương trình, sách giáo khoa và thiết bị dạy học; tăng tính thực hành, thực tiễn, giảm tính hàn lâm, kinh viện; coi trọng khoa học xã hội - nhân văn, phản ánh các thành tựu khoa học - công nghệ phù hợp khả năng tiếp thu của học sinh.
Tuy việc phân ban ở trung học phổ thông không phải là mới mẻ và chưa đạt tới mức cao nhất trong bậc thang tiến hoá về chương trình trung học, nhưng để đi đến quyết định cuối cùng cũng đã phải trải qua một thời gian dài hơn chục năm thử nghiệm, tranh luận và điều chỉnh. Trở ngại chính ở đây là, sự phân vân giữa hai xu hướng: ở cực này, muốn duy trì việc thực hiện một chương trình duy nhất và ở cực kia, muốn có nhiều hơn nữa cơ hội tự chọn cho học sinh.
Mặc dù đã đạt được những tiến bộ rất đáng khích lệ, cho đến hiện nay, chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi quỹ đạo truyền thống với những môn học được phân chia theo kiểu cũ: văn, sử, địa, toán, lý, hoá, ... và những mong muốn tích hợp các môn học vẫn chưa có điều kiện thực hiện.
Khó khăn lớn nhất trong việc đổi mới chương trình giáo dục là, về mặt chủ quan, các tác giả luôn luôn muốn học sinh phải đi theo con đường mà mình đã trải qua và không vượt qua được những quan niệm vốn có về môn học cũng như tập quán tư duy do cách phân chia các môn học như hiện nay tạo ra. Về mặt khách quan, là khó khăn do năng lực quản lý nhà trường và trình độ của đội ngũ giáo viên chưa thể đáp ứng yêu cầu của chương trình mới. Trong khi đó, nội dung học tập của nhà trường phổ thông không thể cứ tiếp tục rượt đuổi những thành tựu khoa học-công nghệ đang xuất hiện hằng ngày với tốc độ vũ bão. Câu hỏi: “Ngày nay, nhà trường trung học nên dạy cái gì cho học sinh?” vẫn là một thách thức đối với các nhà hoạch định tương lai của nền giáo dục nước ta.[16]
1.2. Đổi mới giáo dục đại học 
Để nâng cao tiềm năng trí tuệ của dân tộc, nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và của nền kinh tế đất nước, Chính phủ đã giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Đề án đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020.
Mục tiêu tổng quát của công cuộc đổi mới giáo dục đại học trong 15 năm tới là: Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng và quy mô của giáo dục đại học; nâng cao năng lực cạnh tranh của từng trường và của toàn hệ thống; làm cho các trường thích ứng và hoạt động có hiệu quả trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trên cơ sở đó, thực hiện tốt sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu học tập của nhân dân. [17]
Để đạt mục tiêu tổng quát nói trên, các trường đại học, cao đẳng và toàn bộ hệ thống giáo dục đại học cần phải thực hiện các mục tiêu cụ thể là:
- Hoàn chỉnh mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, với sự phân tầng rõ rệt về chức năng, đảm bảo phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát triển các chương trình đào tạo theo hai hướng chính: nghiên cứu-phát triển và nghề nghiệp-ứng dụng; chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ; hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng và kiểm định; đạt được sự công nhận bằng cấp với các nước trong khu vực và trên thế giới; và xây dựng một vài trường đạt mức tiên tiến trên thế giới.  [17] 
Việc đổi mới giáo dục đại học được thực hiện theo 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 2006-2010, hoàn thiện đề án chi tiết đổi mới giáo dục đại học. Tập trung thực hiện một số giải pháp nêu ở trên như: đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế huy động nguồn lực, tạo sự chuyển biến bước đầu về chất lượng.
- Giai đoạn 2011-2015: củng cố các kết quả đạt được ở giai đoạn I. Triển khai đồng bộ các giải pháp, chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, phát triển đủ về quy mô và đảm bảo về trình độ đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học. Phấn đấu có được bước chuyển biến rõ rệt về chất lượng, tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
- Giai đoạn 2016-2020: Hình thành hệ thống giáo dục đại học hiện đại, cơ cấu trình độ phù hợp, mạng lưới giáo dục hợp lý, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, đáp ứng về cơ bản hoàn thiện nhu cầu nhân lực trình độ cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. [17]
1.3. Phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Việc thực hiện phổ cập giáo dục ở nước ta có một số đặc điểm khác với các nước khác [9]:
- Mang tính vận động, không dùng các biện pháp cưỡng bức. Tuy trong Luật Phổ cập giáo dục tiểu học 1991, Luật Giáo dục 1998 và Luật Giáo dục 2005 có quy định tiểu học là cấp học bắt buộc nhưng không quy định các biện pháp xử lý khi cha mẹ học sinh không thực hiện. Sự khác biệt giữa cấp học bắt buộc và cấp học không bắt buộc ở chỗ, đối với cấp học bắt buộc, học sinh trường công lập không phải đóng học phí.
- Yêu cầu đi học đúng độ tuổi được thực hiện từng bước. Đối với tiểu học, lộ trình thực hiện phổ cập được phân thành hai giai đoạn: Trước năm 2000, mục tiêu là hầu hết thiếu niên trong độ tuổi 14 đều tốt nghiệp tiểu học. Từ năm 2000, mục tiêu là hầu hết thiếu niên trong độ tuổi 11 đều tốt nghiệp tiểu học nghĩa là thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.
- Sau phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, không theo trình tự tăng dần số năm học bắt buộc, từ 5 năm lên 6 năm, rồi 7 năm như nhiều nước khác.... Trình tự này cũng được thực hiện ngay trên từng địa bàn dân cư.
- Đánh giá và ghi nhận kết quả đối với từng đơn vị hành chính. Cụ thể, để thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục, Quốc hội quy định tiêu chuẩn công nhận kết quả đối với từng cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh. Việc kiểm tra, công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục, được Chính phủ giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cấp chính quyền địa phương.
Tiêu chuẩn công nhận kết quả thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở đối với từng đơn vị hành chính được Quốc hội quy định[17], cụ thể như sau:
*Đối với xã, phường, thị trấn
- Bảo đảm duy trì, củng cố và hoàn thiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học.
- Huy động số học sinh tiểu học tốt nghiệp tiểu học hàng năm vào trung học cơ sở đạt tỷ lệ từ 95%; ở những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn từ 80% trở lên.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trung học cơ sở; giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học; bảo đảm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở hằng năm từ 90% trở lên; ở những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn từ 75% trở lên.
- Bảo đảm tỷ lệ thanh, thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 đạt trình độ trung học cơ sở 80% trở lên; ở những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn từ 70% trở lên.
*Đối với quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Bảo đảm 90% số xã, phường, thị trấn đạt mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
* Đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
Bảo đảm 100% số quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đạt mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Trách nhiệm kiểm tra, công nhận kết quả thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở đối với từng đơn vị hành chính được Chính phủ quy định[18]:
Ban chỉ đạo trung ương do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, với sự tham gia của một số bộ, ngành có liên quan chịu trách nhiệm kiểm tra, công nhận cho các tỉnh;
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh kiểm tra, công nhận cho các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh kiểm tra, công nhận cho các xã, phường, thị trấn.
 Mục tiêu của Việt Nam về phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là đến năm 2010, tất cả các tỉnh đều đạt tiêu chuẩn quốc gia.
Kết quả thực hiện cho đến hết tháng 3 năm 2006 là: đã có 35 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 32 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở. [20] Trong số các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nói trên, có trường hợp được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở nhưng chưa đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và ngược lại.
Những bài học kinh nghiệm rút ra từ những thành công và cả những hạn chế của suốt quá trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học hiện đang được áp dụng vào công cuộc phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đó là:
- Muốn đạt được thành công chắc chắn, công cuộc xây dựng nền tảng học vấn tối thiểu cho toàn dân phải được tiến hành đồng thời trên cả ba mặt: (i) chống nạn thất học cho người lớn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ cập giáo dục cho trẻ em; (ii) phổ cập giáo dục cho trẻ em nhằm chặn nguồn bổ sung của nạn thất học; (iii) tổ chức các hình thức giáo dục không chính quy nhằm duy trì, phát triển thành quả chống nạn thất học và phổ cập giáo dục, đồng thời ngăn chặn nguy cơ thất học trở lại. Trong ba mặt đó, việc xây dựng, duy trì và phát triển mạng lưới trường lớp theo nguyên tắc trường gần dân là nhân tố quyết định.
- Công cuộc xây dựng nền tảng học vấn tối thiểu cần thiết cho toàn dân phải gắn bó chặt chẽ với các nhiệm vụ chính yếu của cả dân tộc, xem đó là một bộ phận của sự nghiệp xây dựng đất nước, mở mang kinh tế - xã hội, vun đắp và giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc. Nhờ đó, với sự thức tỉnh về tính thần dân tộc và ý thức công dân, tất cả những người tham gia, từ người dạy, người học đến người bảo trợ và vận động phong trào đều thấy ý nghĩa xã hội sâu xa nhưng rất gần gũi của công việc đang làm.
- Xã hội hoá là bài học lớn nhất có thể rút ra ngay từ chiến dịch xoá mù chữ đầu tiên (1945-1946) và đã được bổ sung, nâng cao không ngừng trong suốt quá trình phát triển giáo dục. Sự thành công của các chiến dịch xoá nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học ở Việt Nam là kết tinh công sức của hàng chục triệu người, của người dạy, của người học, của người tổ chức, vận động và cổ vũ các hoạt động xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học. Đồng thời, đó cũng là kết quả tham gia tích cực các tổ chức, đoàn thể và sự phối hợp, giúp đỡ của các ngành đối với ngành giáo dục.
- Việc tạo lập một môi trường văn hoá thuận lợi, vừa có tác dụng thúc đẩy, vừa tạo điều kiện duy trì và phát huy thành quả đã đạt được là nhân tố không thể thiếu khi tiến hành công cuộc xây dựng nền tảng học vấn tối thiểu cần thiết cho toàn dân. Các cơ quan văn hoá, nhà xuất bản, báo chí, phát thanh, truyền hình đóng vai trò quan trọng, ngoài việc tuyên truyền, động viên xã hội tham gia, các tổ chức đó cần tạo ra những sản phẩm văn hoá, đặc biệt là những ấn phẩm, phù hợp trình độ học vấn của nhiều người, góp phần vào việc nâng cao hiểu biết và năng lực của họ, giúp họ tiếp cận với kho tàng tri thức cần thiết cho người dân bình thường ở một xã hội đang phát triển, giúp họ sử dụng được các phương tiện thông tin trong quá trình học tập suốt đời, làm cho mọi người đều học và đều sử dụng những điều học được vào cuộc sống. [9]
 Mục tiêu giáo dục cho mọi người-xây dựng xã hội học tập
Thực hiện cam kết Dakar, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo soạn thảo Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010 và ngày 18-5-2005, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định phê duyệt đề án này.
Mục tiêu cơ bản được ghi trong đề án là: Tạo điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ có thể học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời; dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông của cả hai bộ phận: giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; trong đó, giáo dục thường xuyên làm tiền đề cho việc xây dựng xã hội học tập.
Mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2010 là:
- Nâng cao kết quả xoá nạn mù chữ, tăng tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-35 từ 94% lên 99%; chú trọng xoá nạn mù chữ ở vùng dân tộc thiểu số ít người; xoá bỏ sự khác biệt, tạo sự bình đẳng giữa nam và nữ trong công tác xoá nạn mù chữ.
- Bảo đảm để 80% cán bộ xã, phường, quận, huyện được học tập, cập nhật kiến thức, kỹ năng về quản lý, pháp luật, kinh tế, xã hội; 100% công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý, chính trị, tin học, ngoại ngữ; 85% lao động nông, lâm, ngư nghiệp được tiếp cận và thụ hưởng các chương trình bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết, khả năng lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Phấn đấu để 100% tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 100% quận, huyện, thị xã có trung tâm giáo dục thường xuyên, 80% xã, phường trong cả nước xây dựng được trung tâm học tập cộng đồng. [15]
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ trước mắt của ngành giáo dục Việt Nam là:
- Củng cố và phát triển phân hệ giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, hoàn thiện mạng lưới trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng. Phấn đấu để các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm giáo dục cộng đồng có các hoạt động thiết thực về nội dung, sinh động về hình thức, có nội dung giáo dục phù hợp với tâm lý và đáp ứng nhu cầu thiết thân của người học, giúp cho người học có kiến thức và kỹ năng giải quyết những vấn đề cụ thể trong cuộc sống hằng ngày.
- Hoàn thiện các chương trình giáo dục thường xuyên lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời xây dựng các chương trình giáo dục nhằm đáp ứng các yêu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân.
- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục thường xuyên. Thực hiện các giải pháp thu hút các nhà giáo, các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội tham gia giảng dạy tại các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm giáo dục cộng đồng. Các cấp quản lý giáo dục chủ động phối hợp với Hội Khuyến học ở địa phương tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chủ trì công tác xây dựng, phát triển trung tâm học tập cộng đồng.
- Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục thường xuyên, tăng cường mối liên kết và phối hợp giữa các ngành, thực hiện xã hội hoá, phấn đấu để giáo dục thường xuyên góp phần xứng đáng trong cuộc vận động lớn là xây dựng xã hội học tập.
2. Công bằng xã hội trong giáo dục và bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục       
Công bằng xã hội trong giáo dục và bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục là thách thức lớn đối với một nước nghèo như Việt Nam. Từ ngày giành được độc lập cho đến nay, chính phủ Việt Nam đã cùng với nhân dân quyết tâm vượt qua thách thức này. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và bình đẳng về cơ hội học tập là nguyên tắc của nền giáo dục quốc dân Việt Nam.
Theo Luật Giáo dục của Việt Nam, mọi công dân đều bình đẳng về cơ hội học tập, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện để ai cũng được học hành; ưu tiên, tạo điều kiện cho con em các dân tộc thiểu số, con em gia đình ở địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người tàn tật, khuyết tật thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập.
Đối với con em các dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, những người tàn tật, khuyết tật và con em các gia đình nghèo, Chính phủ có chính sách trợ cấp xã hội, cấp học bổng chính sách và miễn hoặc giảm học phí. Đối với học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở các xã thuộc địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Chính phủ có chính sách cấp phát sách giáo khoa và học phẩm. Một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội về giáo dục là, sắp tới đây, Chính phủ sẽ bảo đảm kinh phí để trường tư thực hiện việc miễn hoặc giảm học phí cho các đối tượng này. [12]
Nhằm tạo nguồn đào tạo cán bộ thuộc các dân tộc thiểu số, Chính phủ lập 4 trường dự bị đại học, 11 trường dân tộc nội trú trung ương, 48 trường dân tộc nội trú tỉnh, 266 trường dân tộc nội trú huyện, 680 trường dân tộc bán trú bảo đảm việc học tập cho gần 300 nghìn học sinh người dân tộc thiểu số. [20] Học sinh học tại các trường này được cấp học bổng, cấp sách giáo khoa và học phẩm. Đồng thời, Chính phủ cũng thực hiện chính sách cử tuyển, tạo điều kiện để các tỉnh chọn học sinh con em các dân tộc thiểu số (phần lớn từ các học sinh tốt nghiệp trường trường trung học phổ thông nội trú) đưa đi đào tạo ở bậc đại học, không bắt phải qua kỳ thi tuyển sinh. Trong việc tuyển sinh vào các trường, mức điểm tối thiểu để được vào học đối với con em các dân tộc thiểu số, con em các gia đình ở các địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, con em các gia đình cư trú ở nông thôn, tuỳ từng loại, cũng được quy định thấp hơn từ 3 điểm, 2 điểm hoặc 1 điểm so với các đối tượng còn lại.
Hai chỉ số quan trọng thể hiện sự bình đẳng về cơ hội học tập là tỷ lệ nữ và tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong tổng số học sinh.
Kết quả của nỗ lực bình đẳng về giới trong hằng chục năm trước đây đã thể hiện rất rõ trong cơ cấu đội ngũ nhà giáo hiện nay. Tỷ lệ giáo viên, giảng viên nữ tương đối cao: gần 100% ở giáo dục mầm non, 78% ở tiểu học, 70% ở trung học cơ sở, 55% ở trung học phổ thông, 40% ở trung học chuyên nghiệp, 47% ở cao đẳng, 36% ở đại học[19]. Trong năm học 2004-2005, ở tiểu học tỷ lệ học sinh nữ là 47%; ở trung học cơ sở là 47%; ở trung học phổ thông là 49%; ở trung cấp chuyên nghiệp tỷ lệ học sinh nữ còn cao hơn: 58%. Trong kỳ thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, tỷ lệ sinh viên mới được tuyển là nữ chiếm 48%. [19] [20]
Khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục giữa các nhóm dân tộc được thu hẹp. Trong 5 năm (2001-2005), số học sinh người dân tộc thiểu số tăng đáng kể, ở trung học cơ sở tăng bình quân 7,3%/năm, ở trung học phổ thông tăng bình quân 26,1%/năm. Trong năm học 2004-2005, tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số trong tổng số học sinh phổ thông cả nước là 15,7%; ở tiểu học là 18,5%; ở trung học cơ sở là 13,7%; ở THPT là 9,4%. Trong kỳ thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, tỷ lệ sinh viên mới được tuyển là con em các dân tộc thiểu số chiếm gần 4%. [19] [20] Như vậy, trong khi các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 10% dân số thì tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số ở trung học phổ thông (9,4%) và tỷ lệ sinh viên mới được tuyển người dân tộc thiểu số ở đại học, cao đẳng (4%) còn tương đối thấp, cần phải được nâng lên. [9] Chính vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang được chính phủ giao trách nhiệm nghiên cứu, chuẩn bị một Nghị định về đổi mới chính sách cử tuyển nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho con em các dân tộc thiểu số được học ở đại học, cao đẳng.
Về việc giáo dục cho trẻ em bị khuyết tật, chính phủ đã rất quan tâm. Hiện nay, Việt Nam có khoảng một triệu trẻ em khuyết tật, trong đó một bộ phận đáng kể là kết quả di hại của chất độc da cam do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Do gặp rất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em khuyết tật, tỷ lệ trẻ em khuyết tật được đi học mới vào khoảng 24,22% và trong số trẻ em khuyết tật được đi học thì 3% học tại các cơ sở chuyên biệt, 97% học chung với trẻ em bình thường theo phương thức hoà nhập. [20] Về việc đào tạo giáo viên dạy trẻ em khuyết tật, đã có 4 trường đại học và 3 trường cao đẳng thành lập khoa/ tổ bộ môn giáo dục đặc biệt. Tuy nhiên, công việc giáo dục, chăm sóc trẻ em khuyết tật còn gặp rất nhiều khó khăn, do nhận thức, do thiếu điều kiện vật chất và do thiếu giáo viên.
3. Dạy ngoại ngữ, dạy bằng ngoại ngữ, bảo tồn ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số
Trong cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam, tuy mỗi dân tộc có tiếng nói riêng nhưng ngoài người Việt, chỉ có hơn mười dân tộc thiểu số (như Hoa, Chăm, Khơ-me, Thái, Tày, HMông, Nùng, Ê-đe, Gia-rai, Ba-na, Xê-đăng, K’Ho...) có chữ viết. Chính sách ngôn ngữ của Chính phủ Việt Nam là tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Đối với các dân tộc thiểu số đã có chữ viết, song song với tiếng Việt, tiếng dân tộc được dạy trong trường tiểu học, như một môn học, bình đẳng với các môn học khác, đồng thời được dùng để dạy trong các lớp xoá mù chữ và bổ túc văn hoá. Việc dạy tiếng dân tộc trong trường tiểu học được thực hiện theo nguyên tắc:        
- Đối với các trường hợp chữ viết của dân tộc thiểu số theo ký tự thuộc hệ la-tinh thì môn học tiếng của dân tộc đó được thực hiện từ lớp 3 để tránh học sinh phải học cùng một lúc hai bộ ký tự la-tinh một dành cho tiếng Việt và một dành cho tiếng mẹ đẻ.
- Đối với các trường hợp chữ viết của dân tộc thiểu số theo ký tự cổ truyền, không thuộc hệ la-tinh, thì môn học tiếng của dân tộc đó được thực hiện từ lớp 1.
- Dù bắt đầu học từ lớp 1 hay lớp 3, yêu cầu đặt ra là, các trường đều phải bảo đảm, học hết tiểu học học sinh có thể đọc thông, viết thạo tiếng mẹ đẻ[20].
   Nói chung, tiếng dân tộc được dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non giúp trẻ biết sõi tiếng mẹ đẻ đồng thời biết tiếng Việt để chuẩn bị vào lớp 1. Để giúp cho con em các dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường, cùng với việc dạy tiếng mẹ đẻ, Chính phủ chủ trương vận động các bậc cha mẹ đưa tất cả trẻ em 5 tuổi đến trường để dạy tiếng Việt trước khi đủ 6 tuổi để vào lớp 1.
Về ngoại ngữ: trong hầu hết các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Việt Nam, học sinh được học một trong bốn thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hoa, tiếng Pháp như một môn học bắt buộc. Tại một số thành phố lớn, ngoại ngữ được xem là môn học tự chọn ở trường tiểu học. Tại một số trường chuyên, ngoại ngữ được xem là môn chuyên để đào tạo học sinh có năng khiếu về ngoại ngữ. Riêng tiếng Pháp, một số địa phương thực hiện đề án dạy tăng cường để có thể trở thành chuyên ngữ. Do thiếu giáo viên, nhất là thiếu giáo viên giỏi, nên việc tổ chức dạy ngoại ngữ ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, thời lượng còn ít và chất lượng không cao. Tuy là môn học bắt buộc, nhưng mãi gần đây ngoại ngữ mới được đưa vào làm một môn thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Khởi đầu, thí sinh được chọn hoặc thi ngoại ngữ hoặc thi một môn học khác, sau đó tiến đến chỗ ngoại ngữ trở thành một môn thi bắt buộc. Kể từ năm học 2001-2002, số thí sinh thi ngoại ngữ đã chiếm trên 90%. [21]
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ và phục vụ chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, chính phủ Việt Nam đang giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo chuẩn bị một đề án cải thiện tình hình dạy ngoại ngữ, theo đó ngoại ngữ sẽ được tăng thời lượng, được dạy liên tục từ lớp 6, ở địa phương có đủ điều kiện có thể dạy từ lớp 3. [21]
Cùng với việc tăng cường dạy ngoại ngữ, việc sử dụng tiếng Anh, tiếng Pháp làm chuyển ngữ ở một số ngành đào tạo trong một số dự án hợp tác quốc tế cũng được thực hiện tại một vài trường đại học và sắp tới, việc dạy bằng tiếng nước ngoài (trước hết là tiếng Anh) cũng đang được khuyến khích để mở rộng trong các trường đại học. [21]
4. Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Để có đủ giáo viên đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô giáo dục, Việt Nam đã dành nhiều nỗ lực phát triển hệ thống các trong sư phạm, đồng thời có nhiều lúc phải mở các khoá đào tạo giáo viên cấp tốc (9+3, 12+1 v.v...). Đến năm học 2004-2005, cả nước có 986.604 nhà giáo, so với năm học 1998-1999, tăng thêm 213.644 người.  [9] [19] [20] Trong tổng số giáo viên của năm học 2004-2005, có hơn 7 ngàn giáo viên dạy nghề[21], 155.699 giáo viên tiền học đường, 360.624 giáo viên tiểu học, 295.056 giáo viên trung học cơ sở, 106.586 giáo viên trung học phổ thông, 13.937 giáo viên trung học chuyên nghiệp, 13.677 giảng viên cao đẳng, 33.969 giảng viên đại học. [9] [19] [20]  Đáng chú ý là, số lượng giáo viên tiếp tục tăng ở cấp tiểu học trong khi số lượng học sinh giảm do tác động của việc gảm nhân khẩu trong độ tuổi, trong tương lai điều này cũng sẽ diễn ra ở trung học cơ sở. Đây là cơ hội để giảm tỷ lệ hs/gv, một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng, nhưng mặt khác, đây cũng là thách thức về công tác quản lý vì phải thực hiện sự phân bố lại lực lượng để có thể phát huy tối đa tác động của yếu tố này.
* Về trình độ đào tạo của giáo viên, giảng viên: theo quy định của Luật Giáo dục thì: giáo viên tiền học đường và giáo viên tiểu học phải có bằng trung cấp sư phạm, giáo viên trung học cơ sở phải có bằng cao đẳng, giáo viên trung học phổ thông và giáo viên trung cấp chuyên nghiệp phải có bằng đại học sư phạm (hoặc bằng đại học cộng chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm); giảng viên cao đẳng, đại học phải có bằng đại học, giảng viên dạy chuyên đề và hướng dẫn luận văn thạc sĩ phải có bằng thạc sĩ; giảng viên dạy chuyên đề và hướng dẫn luận án tiến sĩ phải có bằng tiến sĩ. Tuy nhiên, như trình bày ở trên, do có một số lượng không nhỏ những giáo viên được đào tạo cấp tốc nên chưa đạt chuẩn đào tạo và vì vậy việc chuẩn hoá đội ngũ (thông qua các khoá đào tạo bổ sung) luôn luôn là yêu cầu gay gắt đối với ngành giáo dục. Năm học 2004-2005, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo ở giáo dục mầm non là 75,8%; ở tiểu học là 82,0% trong đó khoảng 10% có trình độ cao hơn (đại học, cao đẳng); ở trung học cơ sở là 93,0% trong đó khoảng 20% có trường độ cao hơn (đại học, sau đại học); ở trung học phổ thông là 97% trong đó khoảng 3% có trình độ cao hơn (sau đại học); ở giáo dục nghề nghiệp 68,7% đối với giáo viên dạy nghề và 75,3% đối với trung học chuyên nghiệp.     [9] [19] [20]
* Trong việc nâng cao chất lượng giáo dục: các nhà hoạch định chính sách và quản lý giáo dục Việt Nam quan niệm, nhân tố con người - nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục- có vai trò quyết định. Vì vậy, Việt Nam đang nỗ lực khắc phục các yếu kém trong đào tạo, bồi dưỡng, trong bố trí, sắp xếp và sử dụng để sớm xây dựng được một đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và bảo đảm các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Đồng thời củng cố, tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục theo hướng nâng cao tính chuyên nghiệp; chuẩn hoá về trình độ chuyên môn và năng lực quản lý. Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đặc biệt coi trọng việc nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tính mô phạm, mẫu mực của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; tập trung khắc phục các biểu hiện thiếu trung thực, vụ lợi, ngược đãi học sinh; bảo vệ sự trong sạch của nhà trường và cơ quan giáo dục. Mặt khác, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đang phải đối diện với yêu cầu phải đạt trình độ khá trong khu vực về tin học, từng bước nâng cao trình độ ngoại ngữ mà trước hết là tiếng Anh.
* Về chế độ, chính sách đối với nhà giáo: Ngoài tiền lương, nhà giáo còn được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề nghiệp và phụ cấp khi dạy ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, dạy ở trường chuyên, trường năng khiếu, trường nội trú dành cho con em dân tộc thiểu số, trường dành cho người tàn tật, và được chăm sóc sức khoẻ định kỳ. Khi đi học để nâng cao trình độ nghiệp vụ, nhà giáo được hưởng nguyên lương và phụ cấp. Sinh viên các trường sư phạm không phải đóng học phí, được ưu tiên xét cấp học bổng. [12]
Trong điều kiện phát triển các trường ngoài công lập, xu thế là tiến đến chỗ đạt được bình đẳng về quyền và trách nhiệm, không phân biệt giữa giáo viên công tác tại các trường công lập và ngoài công lập, giữa giáo viên trong biên chế và ngoài biên chế.
* Về đào tạo nhân lực cho hệ thống giáo dục, các trường sư phạm cho đến nay vẫn chỉ tập trung vào đào tạo giáo viên, nhiều chuyên ngành khác chưa được quan tâm tổ chức (như đào tạo người làm chương trình giáo dục, đào tạo người làm kế hoạch giáo dục, ...). Các cơ sở đào tạo cán bộ quản lý giáo dục chủ yếu làm nhiệm vụ bồi dưỡng, chưa có chương trình đào tạo các cán bộ quản lý một cách bài bản. Vì thế, việc xây dựng hệ thống các trường giáo dục như ở các nước khác đang là một thách thức cần được giải quyết.
Trước mắt, để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường sư phạm và trường cán bộ quản lý giáo dục phải tập trung đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học; tích cực triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập và quản lý nhà trường, lấy đây làm khâu đột phá để đổi mới cách dạy, cách học, cách quản lý nhà trường.
5. Đầu tư cho giáo dục và việc huy động mọi nguồn lực để phát triển giáo dục
Thách thức lớn nhất mà giáo dục Việt Nam phải đối mặt trong suốt qúa trình phát triển là mâu thuẫn giữa yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và khả năng hạn hẹp về nguồn lực. Trong thời gian dài trước đổi mới, nguồn lực đầu tư cho giáo dục chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Chuyển sang thời kỳ đổi mới, Chính phủ chủ trương huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục và thực tế đã chứng minh hiệu quả của chủ trương này. Theo Luật Giáo dục, các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục  bao gồm:
- Ngân sách nhà nước;
- Học phí, lệ phí tuyển sinh; các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các cơ sở giáo dục; đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để phát triển giáo dục; các khoản tài trợ khác của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Cùng với việc huy động sự đóng góp của nhân dân, chủ yếu là đối với các gia đình có điều kiện và ở các khu vực thuận lợi, trong những năm đổi mới vừa qua, Chính phủ không ngừng tăng ngân sách giáo dục. Chi tiêu công cho giáo dục trong GDP đã tăng từ 3,5% năm 1994 lên 4,6% năm 2004. [9] [18] So với các ngành khác, giáo dục đã được ưu tiên, theo đó chi tiêu cho giáo dục trong tổng chi tiêu công tăng từ 14% năm 1997 lên 18,6% năm 2005. [9] [18] Mục tiêu của Chính phủ là tiếp tục tăng chi cho giáo dục, đến năm 2010 tỷ trọng chi cho giáo dục trong chi tiêu công đạt 20%, sẽ cho phép tiếp tục tăng cường chất lượng và hiệu quả giáo dục, qua đó góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia. [15]
Cùng với việc ngân sách giáo dục không ngừng tăng lên, cơ cấu chi tiêu công cho các cấp học và trình độ đào tạo cũng đã thay đổi theo hướng tăng % chi cho giáo dục phổ thông, giáo dục tiền học đường (gọi chung là khối giáo dục) và giảm % chi cho giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học (gọi chung là khối đào tạo) thể hiện quan điểm của chính phủ, ưu tiên cho giáo dục cơ sở và giáo dục ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, vùng cư trú của các dân tộc thiểu số. Cụ thể, năm 1998, tỷ lệ chi cho giáo dục là 73,3% và cho đào tạo là 26,7%; đến năm 2002, tỷ lệ chi cho giáo dục là 77,7% và cho đào tạo là 22,3%. [9] [18] Cũng trong thời gian này, tỷ lệ chi cho giáo dục đại học cũng giảm từ 12,4% xuống 9,7% phản ánh xu thế giảm % chi tiêu công cho cấp học có thể dựa nhiều hơn vào sự đóng góp của người học và gia đình người học. [9] [18]
Về cơ cấu chi tiêu công cho giáo dục - đào tạo theo nội dung kinh tế (phân theo chức năng chi), trong thời kỳ 1999-2002, tỷ lệ giữa hai thành phần chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản không  có sự thay đổi lớn, dao động ở mức 73% và 27%; nhưng về con số tuyệt đối, chi xây dựng cơ bản đã tăng gấp đôi, từ 2.418 nghìn tỉ đồng năm 1999 lên 4.375 nghìn tỉ đồng năm 2002. [9] [18] Khó khăn của Việt Nam hiện nay là tỷ lệ chi cho mua sắm tài sản cố định (trong đó có thiết bị dạy học) và sửa chữa nhỏ ở khối giáo dục còn thấp (10%) và chi về tiền lương còn quá cao. Năm 2002, ở khối giáo dục, chi lương và phụ cấp lương chiếm 71,3% tổng chi thường xuyên, trong khi đó ở khối đào tạo chỉ chiếm 27,4%. [9] [18] Từ năm 1999 đến nay, chi lương cho giáo viên tính trên đầu học sinh tăng ở tất cả các cấp học thuộc khối giáo dục; nhanh nhất là ở tiểu học, gần gấp đôi trong vòng 4 năm (từ 263,896 đồng/hs năm 1999 lên 516,023 đồng/ hs năm 2002). [9] [18] Điều này phản ánh sự ưu tiên trong chính sách đãi ngộ đối với giáo viên, nhân tố quy định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Theo chủ trương xã hội hoá nguồn lực cho giáo dục, từ năm 1994, giáo dục ngoài công lập đã tăng đáng kể. Cấp học được tập trung nhất là tiền học đường và trung học phổ thông; trong đó, số lượng trẻ em ở các cơ sở tiền học đường ngoài công lập tăng từ 30% năm 1994 lên 58% năm 2004 và số lượng học sinh ở các trường trung học phổ thông ngoài công lập tăng từ 20% lên 32% trong cùng thời kỳ.
Về sự đóng góp của cha mẹ học sinh, có hai hình thức, bắt buộc và tự nguyện. Theo quy định của Chính phủ, đóng góp bắt buộc của cha mẹ học sinh gồm học phí, lệ phí tuyển sinh và đóng góp xây dựng trường sở. Những khoản đóng góp này được coi là nguồn thu của ngân sách nhà nước, do nhà trường thực hiện và giữ lại trường để trang trải cho hoạt động giáo dục. Cùng với việc gia tăng về thu nhập của người dân, chi tiêu của cha mẹ học sinh cho việc học tập của con em cũng tăng lên, năm 2002 là 627 nghìn đồng/học sinh cao hơn 14,6% so với thời kỳ 1997-1998. [9] [18] Tuy nhiên, tỷ lệ phần đóng góp và chi phí trực tiếp của cha mẹ học sinh trong tổng chi phí cho học sinh lại giảm vì phần chi từ ngân sách nhà nước tăng lên. Ví dụ, ở tiểu học, tỷ lệ phần đóng góp và chi phí trực tiếp của cha mẹ học sinh trong tổng chi phí cho học sinh giảm liên tục: từ 55% năm 1993 xuống còn 27% năm 2002; như vậy tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước thì tăng từ 45% lên 73% trong cùng thời kỳ. Cũng cần phải lưu ý là, tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước trong tổng chi phí theo đầu học sinh ở cấp học dưới thì cao hơn ở cấp học trên, cụ thể trong năm 2002, ở tiểu học là 73%, ở THCS là 59% và ở THPT là 52%. [9] [18] Những số liệu này một lần nữa chứng tỏ những nỗ lực của Chính phủ trong việc dành ưu tiên cho giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Trong những năm tới, tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hoá nguồn lực cho giáo dục, cùng với việc huy động sự đóng góp của nhân dân, chủ yếu là đối với các gia đình có điều kiện và cư trú ở các khu vực thuận lợi, giải pháp mà ngành giáo dục sẽ phải theo đuổi là Nhà nước tiếp tục tăng ngân sách giáo dục, trên cơ sở đó, tiến hành điều chỉnh cơ cấu chi ngân sách giáo dục theo hướng không phân bổ đồng đều, dàn trải; dành ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, hỗ trợ học sinh nghèo, con em gia đình thuộc diện chính sách bất kể các em này ở thành phố hay ở nông thôn, là học sinh trường công hay trường tư. Đồng thời với việc hoàn chỉnh các chính sách hỗ trợ học sinh nghèo và con em gia đình thuộc diện chính sách, Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo của chính phủ và chiến lược cấp ngành đang đặt ra mục tiêu xoá bỏ phí và lệ phí trong giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Các nhà hoạch định chính sách và quản lý giáo dục Việt Nam cho rằng, chỉ có thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp nêu trên mới có thể nhanh chóng giảm dần được khoảng cách chênh lệch về tiếp cận và thụ hưởng giáo dục giữa các vùng miền và giữa các bộ phận khác nhau trong xã hội.
6. Hợp tác quốc tế về giáo dục
Thực hiện đường lối đối ngoại mở cửa, đa phương hoá, đa dạng hoá các loại hình hợp tác quốc tế của Chính phủ, trong 5 năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã chủ động mở rộng và thiết lập quan hệ hợp tác quốc tế, nâng tổng số đối tác lên gần 60 nước và 36 tổ chức quốc tế, liên chính phủ hoặc phi chính phủ; ký kết 14(1) văn bản chính thức nhằm tăng cường và mở rộng quan hệ với 12 nước.
Thông qua các hoạt động hệ thống quốc tế, những thành tích và kinh nghiệm của Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục đã được giới thiệu với bạn bè quốc tế. Nhờ đó, số lượng lưu học sinh nước ngoài đến Việt Nam học tập, nghiên cứu (theo hiệp định hợp tác song phương hoặc tự túc kinh phí) tăng lên một cách đáng kể. Mặt khác, số học bổng mà các nước cấp cho Việt Nam cũng có chiều hướng tăng lên, tạo cơ hội cho 4.000 lưu học sinh Việt Nam đi học ở nước ngoài trong 5 năm qua. Nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh Việt Nam đi du học ở nước ngoài, mỗi năm Chính phủ Việt Nam cũng đã dành khoảng 100 tỷ đồng để cử 350-400 du học sinh đi đào tạo ở các nước có các chuyên ngành đào tạo tiên tiến mà Việt Nam cần hoặc chưa đào tạo được. Một hình thức khuyến khích khác là Chính phủ hỗ trợ sinh hoạt phí cho lưu học sinh Việt Nam học tập ở 13 nước trên thế giới và nhiều hình thức hỗ trợ khác nhằm động viên khuyến khích lưu học sinh tích cực học tập.
Đồng thời với việc trao đổi lưu học sinh, Việt Nam đã tích cực, chủ động khai thác các nguồn viện trợ để bổ sung cho ngân sách giáo dục Việt Nam. Tổng vốn các dự án vay và viện trợ được ký kết trong 5 năm qua là 217.780 triệu USD. [9] [18] Số vốn của các dự án này, một phần đã được giải ngân, phần còn lại dành cho 5 năm tới. Nhìn chung, các dự án trên đã góp phần cải thiện chất lượng và hiệu quả giáo dục, tăng thêm cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các cơ sở giáo dục ở khu vực khó khăn.
Nhiều trường đại học Việt Nam cũng đã đặc biệt quan tâm đến việc tranh thủ nguồn tài trợ quốc tế để xây dựng các trung tâm khoa học và công nghệ cao, tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Các trung tâm như vậy đã tập trung vào các lĩnh vực khoa học công nghệ cần được ưu tiên như: công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ thông tin, tự động hoá,... Tuy qui mô có khác nhau song các trung tâm này đều có các trang thiết bị tiên tiến, tương đối cập nhật với khoa học - công nghệ thế giới.
Sự tham gia tích cực của Việt Nam vào các hoạt động của các tổ chức khu vực và quốc tế như UNESCO, UNICEF, UNDP, Tổ chức Liên chính phủ Pháp ngữ (AIF), Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF), ASEAN+1,2,3, Hợp tác sông Hằng-sông Mê Kông, Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam á (SEAMEO) là nỗ lực lớn nhằm hội nhập khu vực và quốc tế trong lĩnh vực giáo dục. Hằng năm, hàng trăm giảng viên, cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý giáo dục tham dự các hội nghị, hội thảo khoa học; các khoá đào tạo ngắn hạn, dài hạn do các nước và các tổ chức quốc tế tổ chức để học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn với các đồng nghiệp nước ngoài.
Hưởng ứng chính sách khuyến khích của chính phủ Việt Nam, một số lượng khá lớn các đối tác nước ngoài đã vào Việt Nam thành lập các cơ sở giáo dục 100% vốn nước ngoài hoặc hợp tác với các đối tác Việt Nam để đào tạo đại học, dạy nghề, giáo dục từ xa, mở các khoá bồi dưỡng ngắn hạn... Với điều kiện cơ sở vật chất tốt, chương trình đào tạo tiên tiến, đội ngũ giảng viên có chọn lọc, các cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, được thị trường lao động chấp nhận.
Thông qua các chương trình liên kết đào tạo, các cơ sở giáo dục của Việt Nam có điều kiện tiếp thu công nghệ đào tạo của các nước phát triển, từ đó có thể đổi mới đ­ược nội dung, chư­ơng trình và phương pháp giáo dục; tiến tới có thể tự xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo mang tính quốc tế. Với mô hình liên kết đào tạo hoặc thành lập cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài, học sinh, sinh viên Việt Nam có thêm nhiều cơ hội du học tại chỗ và lựa chọn loại hình học tập phù hợp ; ngành giáo dục huy động được nguồn lực của nhân dân và cha mẹ học sinh, sinh viên lại tiết kiệm được kinh phí khi cho con du học tại chỗ thay vì đi học ở nước ngoài.
Tuy nhiên, công tác quản lý, kiểm tra đánh giá đối với hoạt động của các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài đang gặp khó khăn vì một số cơ sở chưa chấp hành nghiêm túc các quy định của Chính phủ. Sai phạm mà các cơ sở hay chương trình đào tạo có yếu tố nước ngoài thường mắc phải là: hoạt động không đúng nội dung đăng ký; cắt xén chương trình giảng dạy, không đảm bảo chất lượng và các điều kiện thực hiện chương trình; một số cơ sở giáo dục nước ngoài chưa được chính nước sở tại công nhận về chuẩn chất lượng. Ngoài ra, do chưa có tiêu chí pháp lý phân định hình thức lợi nhuận và phi lợi nhuận nên đa số các nhà đầu tư nước ngoài tự nhận là phi lợi nhuận để tránh nộp thuế. Trước tình trạng đó, Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp lý, đồng thời phấn đấu để có đủ khả năng kiểm định các tổ chức giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của người học, tránh nhập khẩu các chương trình giáo dục hào nhoáng vì mang nhãn hiệu nước ngoài nhưng thực ra là kém chất lượng.
7. Quản lý giáo dục - Phân cấp, tăng cường tự chủ và trách nhiệm xã hội
Bên cạnh việc góp phần tạo ra những thành công, công tác quản lý giáo dục, do những thiếu sót của mình, cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực giáo dục. Vì vậy, để tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong phát triển giáo dục, cần phải tập trung đổi mới công tác quản lý giáo dục, xem đây là khâu đột phá. [15]
Yêu cầu trước mắt của giải pháp đổi mới quản lý giáo dục là hoàn thiện thể chế giáo dục theo tinh thần cải cách hành chính, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giáo dục. Sau khi Quốc hội thông qua Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tích cực chuẩn bị để trình Quốc hội Luật Giáo viên, Luật Giáo dục đại học nhằm hoàn chỉnh khung pháp lý cho các hoạt động giáo dục.
Trước mắt, Bộ GDĐT và Bộ LĐTBXH từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý giáo dục theo tinh thần phân cấp rõ rệt và mạnh mẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các bộ, ngành và địa phương. Đồng thời, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của nhà trường đi đôi với việc đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra. Phát huy dân chủ trong xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ về giáo dục; bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng trong huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư cho giáo dục.  
Trong việc quản lý giáo dục, xuất phát từ quan điểm lấy việc quản lý chất lượng làm nhiệm vụ trọng tâm, các cơ quan quản lý giáo dục đang khẩn trương nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển để tiến hành đổi mới một cách đồng bộ công tác quản lý chất lượng giáo dục, tiếp cận các phương thức quản lý chất lượng hiện đại, phù hợp với trình độ thực tiễn và các đặc điểm văn hoá - xã hội của Việt Nam. Trong đó, vấn đề có tính quyết định là xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn quốc gia về giáo dục, làm cơ sở cho việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá và đảm bảo chất lượng ở tất cả các khâu trong quá trình giáo dục và đối với tất cả các loại hình giáo dục.
Vì chất lượng giảng dạy và học tập của nhà trường là nguồn gốc chủ yếu tạo nên chất lượng của một nền giáo dục, đồng thời nhà trường cũng là nơi phản ánh đầy đủ nhất hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý giáo dục nên, trên cơ sở phát huy quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường, các cơ quan quản lý giáo dục có trách nhiệm bảo đảm để công tác quản lý giáo dục bám sát thực tế của nhà trường, lắng nghe tiếng nói của nhà giáo, của cha mẹ học sinh và xã hội từ đó có những quyết định đúng đắn, phù hợp và khả thi. Một trong những yêu cầu hiện nay là, cần khẩn trương hiện đại hoá công tác quản lý, nhanh chóng thực hiện tin học hoá để thiết lập kênh trao đổi thông tin hai chiều, kịp thời và tin cậy giữa cơ quan quản lý giáo dục với nhà trường, gia đình và xã hội cũng như giữa nhà trường, nhà giáo, phụ huynh và học sinh, sinh viên.
Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung uơng Đảng đã thảo luận và chỉ đạo việc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục đến năm 2020 là: 
            Thứ nhất, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục hợp lý
Cần coi trọng cả ba mặt giáo dục: dạy làm người, dạy chữ, dạy nghề; đặc biệt chú ý giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, lịch sử, truyền thống, văn hoá dân tộc, giáo dục về Đảng. Ngăn chặn xu hướng coi nhẹ giáo dục chính trị, tư tưởng, xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa, các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động giáo dục. Quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục nhân cách, kỹ năng và phương pháp làm việc; nâng cao trình độ về ngoại ngữ, tin học cho học sinh, sinh viên; phát triền năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm cho thế hệ trẻ có đủ khả năng và bản lĩnh thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thế giới. Bồi dưỡng cho thanh thiếu niên lòng yêu nước nồng nàn, tự hào, tự tôn dân tộc và khát vọng mãnh liệt về xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Phát triển quy mô hợp lý cả giáo dục đại trà và mũi nhọn, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, kể cả những nghề thuộc lĩnh vực công nghệ cao. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận, huyện. Triển khai tích cực các chương trình đảo tạo -nghề cho học sinh lân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Kết hợp chặt chẽ việc đào tạo nghề với việc bồi dưỡng, phổ biến kiến thức kỹ thuật cho nông dân. Sớm điều chỉnh cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về trình độ đào tạo, ngành nghề, dân tộc, vùng, miền. Đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, thực hiện phổ cập trung học cơ sở một cách bền vững; củng cố kết quả xoá mù chữ, ngăn chặn tình trạng tái mù chữ. Làm tốt việc phân lượng, giáo dục hướng nghiệp. Phấn đấu giảm tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho bậc học mầm non, bảo đảm hầu hết trẻ em trong độ tuổi được đi học mẫu giáo.  
Rà soát và bổ sung cơ chế, chính sách, tổ chức phát hiện, bồi dưỡng nhân tài ngay từ bậc học phổ thông, đặc biệt ở bậc đại học. Khuyến khích phát triển, nâng cao chất lượng các trường trung học phổ thông năng khiếu, các lớp đào tạo cử nhân khoa học tài năng. Chú trọng xây dựng một số trường, chuyên ngành đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Tăng nhanh quy mô đào tạo công nhân và cán bộ kỹ thuật lành nghề ở những lĩnh vực công nghệ cao, tiếp cận trình độ tiên tiến thế giới.
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân các cấp, vai trò của ngành giáo dục và đào tạo để phát triển sự nghiệp giáo dục.
Đổi mới căn bản chính sách sử dụng cán bộ theo hướng coi trọng phẩm chất và năng lực thực tế. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, chú trọng quản lý chất lượng giáo dục. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng và giám sát các hoạt động giáo dục.
Chấn chỉnh, sắp xếp lại hệ thống các trường đại học, cao đẳng; khắc phục tình trạng thành lập mới ở những nơi, những lĩnh vực không đủ điều kiện về đội ngũ cán bộ giảng dạy, về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đầu vào của sinh viên; không duy trì các trường đào tạo có chất lượng kém. Thực hiện phân cấp, tạo động lực và tính chủ động của các cơ sở giáo dục. Tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường đi đôi với việc hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch, bảo đảm sự giám sát của các cơ quan nhà nước, đoàn thế và xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong quản lý giáo dục ở các cấp.
Thực sự coi trọng vai trò của khoa học giáo dục. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục, giải quyết tốt những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới giáo dục.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng
Đổi mới mạnh mẽ phương pháp và nội dung đào tạo của các trường và khoa sư phạm. Xây dưng một số trường sư phạm thực sự trở thành trường trọng điểm đủ sức làm đầu tàu cho cả hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên. Tăng đầu tư cơ sở vật chất nâng cấp các trường, các khoa sư phạm. Không ngừng nâng cao chất lượng bảo đảm đủ số lượng giáo viên cho cả hệ thống giáo dục.
Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ.
Chuẩn hoá trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Nhả nước có chính sách ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về vật chất và tinh thần để thu hút những người giỏi làm công tác giáo dục.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục
Rà soát lại toàn bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông, sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng mức tính sáng tạo của người học, chuẩn bị kỹ việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ chương trình giáo dục phổ thông mới theo hướng hiện đại, phù hợp và có hiệu quả. Đổi mới, hiện đại hoá chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, chuyển mạnh mẽ từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu xã hội. Thực hiện tốt đào tạo theo chế độ tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Cải tiến và nâng cao chất lượng chương trình các môn khoa học xã hội, nhân văn, nhất là các môn khoa học Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bãi bỏ tình trạng độc quyền xuất bản và phát hành sách giáo khoa của Nhà xuất bản Giáo dục .
Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều. Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống.
            Thứ năm, tăng cường nguồn lực cho giáo dục
Tăng đầu tư nhà nước cho giáo dục và đào tạo; ưu tiên các chương trình mục tiêu quốc gia, khắc phục tình trạng bình quân dàn trải.
Không ngừng đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Thực hiện tốt chủ trương xây dựng ký túc xá sinh viên và nhà công vụ cho giáo viên ở vùng khó khăn. Hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách đối với trường ngoài công lập.
Đẩy mạnh việc thực hiện xã hội hoá giáo dục; Nhà nước có chính sách huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cho phát triền giáo dục và đào tạo, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân, các thành phần kinh tế tích cực tham gia các hoạt động phát triển giáo dục. Xây dựng cơ chế quản lý, giám sát mọi nguồn đầu tư của xã hội cho giáo dục.
Đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo nhằm góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và đảm bảo công bằng trong giáo dục; thực hiện chế độ học bổng, học phí và hỗ trợ học tập theo hưởng học phí ở giáo dục mầm non, trung học cơ sở -và trung học phổ thông phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư và hoàn cảnh hộ gia đình; học phí ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học thực hiện theo nguyên tắc chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước và người học. Miễn học phí cho học sinh, sinh viên gia đình chính sách, các hộ nghèo; giảm học phí cho học sinh, sinh viên các hộ cận nghèo và hỗ trợ cho học sinh, sinh viên các hộ có thu nhập rất thấp. Thực hiện tốt chủ trương cho học sinh học nghề, sinh viên các gia đình có hoàn cảnh khó khăn được vay tiền ngân hàng để học.
Thứ sáu, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục
Nhà nước tập trung đầu tư cho các vùng khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tùng bước giảm sự chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng, miền. Thực hiện tốt chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ với việc bổ túc nâng cao trình độ cho đối tượng cử tuyển. Quan tâm đào tạo cán bộ vùng dân tộc (cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở). Tiếp tục phát triển hệ thống trường nội trú, bán trú, thực hiện tốt các chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho học sinh dân tộc thiểu số: Đặc biệt chú ý đến con thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với nước, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và học sinh khuyết tật thông qua phát triển các loại quỹ khuyến học, khuyến tài trong các tổ chức xã hội, trong các cộng đồng dân cư.
Thứ bảy, tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo
Giáo dục trong thời kỳ hội nhập quốc tế càng cần phải bảo đảm phát triển bền vững, không ngừng nâng cao chất lượng, phát huy tối đa nội lực, giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận nền giáo dục tiên tiến thế giới. Mở rộng hợp tác đào tạo đa phương gắn với việc tăng cường công tác quản lý nhà nước.
Có cơ chế, chính sách thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài cho giáo dục, nhất là lĩnh vực đào tạo đại học, sau đại học và dạy nghề; thu hút các nhà giáo, nhà khoa học giỏi người nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học, sau đại học.
Thực hiện tốt việc đưa cán bộ, học sinh, sinh viên có đạo đức và triển vọng đi đào tạo ở nước ngoài, chú trọng các ngành mà đất nước có nhu cầu bức thiết, đồng thời tăng cường quản lý, giúp đỡ việc học tập, sinh hoạt lưu học sinh ở nước ngoài.

VI. PHỤ LỤC

1. Phụ lục 1: Giới thiệu bài phát biểu về năm nguyên tắc nền tảng trong giáo dục của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân.  
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã thực hiện nhiều cải cách mạnh mẽ nhằm chấn hưng nền giáo dục nước nhà. Theo lời của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân “Lãnh đạo ngành đã thảo luận nhiều lần để chọn bước đi cho thích hợp. Cuối cùng thì lại trở lại một nguyên tắc giản dị: Con người là nhân tố quyết định của mọi vấn đề”. Theo Bộ trưởng, những cải cách hiện nay vẫn chưa đem lại hiệu quả như mong muốn, nguyên nhân là do vẫn chưa thực hiện triệt để các nguyên tắc trong căn bản của giáo dục, đó là “Trật tự kỷ cương; Trung thực; Khách quan; Công bằng; Khuyến khích sáng tạo và Hiệu quả.
Để các nhà quản lý thấy được những vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính nền tảng cho quá trình phát triển giáo dục lâu dài, chúng tôi xin giới thiệu nguyên văn trả lời phỏng vấn Báo Giáo dục Thời đại của Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân về năm nguyên tắc cơ bản trong giáo dục, bài được đăng trên tạp chí Giáo dục thời đại tháng 01/2008.
Việt Nam đã hình thành được hệ thống giáo dục và khoa học từ trong thời kỳ chiến tranh. Trong suốt những năm qua, nhân tố không thể thiếu được trong sự tăng trưởng kinh tế liên tục của Việt Nam chính là con người. Con người Việt Nam – cũng chính là sản phẩm của nền GD Việt Nam - đã đủ sức thực hiện đổi mới kinh tế, đưa nền kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường; từ hệ thống kinh tế thuần tuý quốc doanh và tập thể sang hệ thống kinh tế nhiều thành phần; đưa Việt Nam từ một nước chủ yếu nhập khẩu sang xuất khẩu nhiều hàng hoá đứng trong “top 10” của thế giới. Tuy nhiên, vẫn còn các dấu hiệu rất đáng lo ngại, đó là những yếu kém chậm được khắc phục, thậm chí có xu hướng gia tăng. Yếu kém về chất lượng giáo viên, chất lượng giáo dục, yếu kém về chất lượng đào tạo đại học, sau đại học; vi phạm trong công tác thi cử và bệnh thành tích. Chúng ta nhìn thấy các yếu kém đó và không thể yên tâm.
Câu hỏi là trong điều kiện không thể tăng nhanh ngân sách cho giáo dục thì làm cách nào để giải quyết được bài toán vừa nâng cao chất lượng GD phổ thông vừa nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp; vừa tăng quy mô giáo dục vừa nâng cao chất lượng nhưng với chi phí thấp. Cái khó nhất của ngành trong những năm gần đây chính là ở chỗ đó. Nếu có thời gian từ từ có thể làm được, nhưng ta đang trong thời kỳ hội nhập, áp lực đến ngay lập tức, không thể chậm trễ.
Lãnh đạo ngành đã thảo luận nhiều lần để chọn bước đi cho thích hợp. Cuối cùng thì lại trở lại một nguyên tắc giản dị: Con người là nhân tốquyết định của mọi vấn đề. Sự năng động và sự chịu trách nhiệm của con người là yếu tố quyết định. Nguồn lực có thể hạn chế, nhưng nếu con người có ý thức, phát huy sáng kiến, thì nguồn lực đó có thể đem lại kết quả cao. Nguồn lực hiện nay chưa đem lại hiệu quả cao, chính là vì sự vi phạm các nguyên tắc nền tảng của giáo dục. Đó là: Trật tự kỷ cương; Trung thực; Khách quan; Công bằng; Khuyến khích sáng tạo và Hiệu quả. Nếu đảm bảo được 5 nguyên tắc này thì hệ thống giáo dục sẽ phát triển. Còn nếu làm ngược lại sẽ làm triệt tiêu sáng kiến, triệt tiêu động lực. Như vậy, không thể khác, để giáo dục phát triển thì phải khắc phục những vi phạm căn bản đó.
Khi ngành giáo dục làm cuộc vận động chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, dư luận xã hội cũng có những ý kiến cho rằng đấy là “chuyện nhỏ”, nhưng Lãnh đạo Bộ lại cho rằng đây là “chuyện rất lớn”, động chạm đến các nguyên tắc của giáo dục, tức là động chạm đến cái gốc của giáo dục. Tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích đã đi ngược lại cả 5 nguyên tắc trật tự, kỷ cương, trung thực, khách quan, công bằng, khuyến khích sáng tạo và hiệu quả. Công khai vi phạm luật pháp, gian lận là công cụ “thành đạt”, người yếu kém được khen, học sinh học tốt, thầy cô dạy tốt thì không được động viên xứng đáng! Nguy hiểm ở đây là đánh giá sai thực tiễn thì đầu tư nguồn lực sai chỗ. Nỗ lực của ngành không giải quyết đúng các yếu kém cần giải quyết. Bệnh thành tích đã làm cho định hướng và nỗ lực sử dụng nguồn lực bị sai lạc. Đó chính là sự lãng phí lớn nguồn lực.
Ngành ta thực hiện cuộc vận động “Hai không” chính là hành động nhằm thiết lập lại những nguyên tắc của ngành, từ đó sẽ phát huy được ý thức và sáng tạo của những chủ thể trong quá trình phát triển. Nỗ lực không chỉ ở bậc phổ thông mà ở tất cả các bậc học.
Khi chúng ta tập trung giải quyết vấn đề tận gốc thì thực tiễn sẽ chỉ ra các công việc phải làm tiếp theo là gì. Vấn đề nổi cộm là vấn đề chất lượng giáo viên và vai trò của các thầy cô hiệu trưởng. Xuất hiện nhu cầu nâng cao chất lượng và chuẩn hoá giáo viên. Trước đây, vấn đề này chưa được làm quyết liệt, năm vừa rồi Bộ mới công bố chuẩn giáo viên mầm non, đang chuẩn bị công bố chuẩn giáo viên tiểu học và trung học. Việc này lẽ ra phải được làm sớm hơn, từ nhiều năm trước. Năm 2007, chúng ta đã khởi động một chương trình mới bồi dưỡng các thầy cô hiệu trưởng, năm 2008 sẽ thực hiện đánh giá hiệu trưởng các trường phổ thông qua ý kiến của các thầy cô giáo.
Trong giáo dục đại học chúng ta cũng cần phải chọn khâu đột phá cho phù hợp với đặc thù. Đó là, thực hiện việc cho vay để học và đào tạo phải đáp ứng nhu cầu xã hội. Cụ thể hoá yếu tố chất lượng và yếu tố động lực ở giáo dục đại học bằng: “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn và đào tạokhông theo nhu cầu xã hội”. Theo hướng này, năm 2007, Bộ đã tổ chức 4 hội thảo quốc gia về đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Đã có gần 150 thỏa thuận, hợp đồng đào tạo của các trường đại học, cao đẳng và các doanh nghiệp, các ngân hàng và các địa phương đã được ký kết. Chúng ta đã nhận thức rõ hơn là không chỉ nhà trường, mà cả 4 chủ thể là nhà trường, doanh nghiệp, nhà nước và sinh viên phải cùng nỗ lực và hợp tác thì mới nâng cao được chất lượng giáo dục đại học nhanh hơn và hiệu quả hơn. Để tạo điều kiện cho các sinh viên, học sinh học nghề đủ điều kiện được học song có hoàn cảnh gia đình khó khăn, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định triển khai hệ thống cho vay mới để học nghề, học đại học. Qua 4 tháng triển khai, đã có 600.000 học sinh, sinh viên được vay, với tổng số vốn cho vay được hơn 2.000 tỷ đồng. Đây là giải pháp có tính đột phá trong đổi mới cơ chế tài chính của giáo dục đại học.
Khi mới đặt ra yêu cầu chống tiêu cực trong thi cử, trong dư luận xã hội cũng có ý kiến không tin là làm được. Chúng ta đưa ra “Hai không” nhưng cũng rất lo. Bài học sâu sắc nhất trong năm học đầu tiên (2006- 2007) thực hiện “Hai không” là chúng ta đã nói cho học sinh hiểu, nói cho người dân đồng tình rằng cái rất cần sau 12 năm học không phải là tấm bằng tốt nghiệp mà là năng lực làm người. Sau một thời gian tuyên truyền, báo chí vào cuộc thì đã nhận được sự đồng tình của xã hội.
Chúng ta mới thi nghiêm túc được một năm học theo tinh thần của cuộc vận động “Hai không”. Mặc dù có thể nói là đã thi nghiêm túc hơn những năm trước nhiều, nhưng chưa phải hoàn toàn nghiêm túc (vì vẫn còn có nơi chưa thật nghiêm túc). Do đó năm nay phải làm nghiêm túc hơn nữa. Để chứng minh cho xã hội thấy chúng ta có thể thi cử nghiêm túc hơn, để năm sau nữa (2009) chỉ còn một kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) và không còn thi quốc gia vào đại học nữa.
Một mối lo nữa là bệnh thành tích không chỉ là “bệnh” của người làm GD mà vẫn bị chi phối bởi những quan niệm chung. Chỉ riêng ngành giáo dục làm không được. Bộ đã tham mưu và Thủ tướng đã có Chỉ thị về khắc phục tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục. Lãnh đạo các địa phương đều ủng hộ phương châm là phải chống tiêu cực và bệnh thành tích, khi ngành giáo dục làm thì đã được các địa phương ủng hộ.
Năm học vừa qua chúng ta đã không đặt ra chỉ tiêu tỷ lệ tốt nghiệp và tỷ lệ khá giỏi nữa, nhưng chúng ta lại thành lập 7 cụm thi đua của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Đặt mục tiêu trong 4 năm 2006- 2010 chống tiêu cực và bệnh thành tích trong GD, cho đến nay tôi cho rằng chúng ta đã đi đúng hướng. Nếu làm tốt 4 năm này, nền đạo đức trong ngành sẽ tiến sang một mốc mới. Đó là tiền đề để chúng ta bước các bước tiếp theo.
Có những vấn đề phát sinh trong năm đầu tiên, nhưng điều đó khiến chúng ta nhìn rõ hơn về thực trạng giáo dục Việt Nam. Một số nhà giáo vi phạm về đạo đức khiến chúng ta phải suy nghĩ và đau xót. Do đó, năm học này, có thêm yêu cầu là phải “Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo”, triển khai cuộc vận động trong ngành: “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”. 
Tất cả các chủ trương lớn của ngành phải xuất phát từ thực tiễn và được bàn bạc, quyết định tập thể. Sang 2008, chúng ta tiếp tục thi nghiêm túc và nói không với bệnh thành tích; xây dựng cơ chế khen thưởng công bằng; nâng cao năng lực sư phạm của GV. Phải tổ chức bồi dưỡng các hiệu trưởng, các “tư lệnh” trên “mặt trận” giáo dục và đào tạo cho ngang tầm trách nhiệm. Đến 2010, tất cả hiệu trưởng phổ thông cũng như đại học đều phải được bồi dưỡng với chương trình có yếu tố quốc tế trên cơ sở hợp tác với các nền giáo dục phát triển trên thế giới. Ngoài ra chúng ta cũng cần đánh giá các hiệu trưởng đúng mức hơn, trước mắt sẽ đột phá ở bậc phổ thông. Chỉ đạo chung là cuối năm, tất cả các hiệu trưởng đều được các giáo viên trong trường mình đánh giá. Nếu được chuẩn bị tốt thì đây là đánh giá công bằng nhất, góp phần hình thành đội ngũ hiệu trưởng của thời kỳ hội nhập.
Ở bậc đại học cũng sẽ thí điểm sinh viên đánh giá giảng viên. Thông qua đó sẽ khuyến khích được các thầy cô giáo ở các trường đại học không ngừng đổi mới. Sau một số năm tiến hành sinh viên đánh giá giảng viên, sẽ thực hiện đánh giá các hiệu trưởng đại học giữa nhiệm kỳ; làm tốt thì khẳng định làm tiếp, làm không tốt có thể thay sớm hơn nhằm đảm bảo trình độ quản lý ở các trường đại học phải tiên tiến. Trên cơ sở thiết lập nguyên tắc đạo đức trong ngành, trên cơ sở bồi dưỡng giảng viên, trên cơ sở nâng cao trình độ quản  lý của cơ sở, chúng ta sẽ xem lại phương thức quản lý tài chính của ngành, muốn sử dụng đồng tiền được tốt thì người quản lý tài chính cũng phải được bồi dưỡng; việc sử dụng ngân sách, kinh phí cũng phải được giám sát. Năm nay sẽ chuẩn bị cho việc đổi mới cơ chế tài chính của ngành, trong đó có phương án học phí mới.
Năm học 2008- 2009 sẽ triển khai chủ đề kép là: “Năm học ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới quản lý tài chính của ngành”. Chọn đây là năm học ứng dụng công nghệ thông tin, vì CNTT là một phương tiện có thể nâng cao hiệu quả GD với chi phí tương đối thấp. Còn đổi mới về quản lý tài chính của ngành là nhu cầu hết sức cấp bách để nâng cao chất lượng giáo dục và chăm lo đời sống các thầy cô giáo tốt hơn, để các thầy, cô phấn khởi, công tác tốt hơn.
Sau năm học 2008- 2009, chúng ta sẽ phải có những bước đi để tiếp tục đổi mới. Chẳng hạn, chuẩn bị triển khai đề án 13 năm đổi mới và nâng cao hiệu quả giảng dạy và sử dụng tiếng Anh. Tiếng Anh sẽ được đưa vào giảng dạy từ bậc tiểu học trong cả nước, theo lộ trình: đô thị đi trước, đồng bằng rồi mới tới miền núi. Phải làm sao để đến lớp 12, phấn đấu có ít nhất một môn được dạy bằng tiếng Anh. Tiếng Anh sẽ được sử dụng như một phương tiện để học tập chứ không chỉ để thi hay “trả nợ” bài nữa. Còn ở bậc đại học sẽ có yêu cầu là tốt nghiệp phải làm việc được trong môi trường tiếng Anh.
Mục tiêu chung là đến 2010, Việt Nam có một hệ thống giáo dục chuẩn; trật tự kỷ cương được nâng lên, chuẩn về hành vi đạo đức được khẳng định; chuẩn về giáo viên và hiệu trưởng được xác lập; nền tin học hoá được nâng lên một bước; yêu cầu về phát triển ngoại ngữ được thiết lập và có chương trình quốc gia và cơ chế tài chính đổi mới. Từ nay đến 2010 là quá trình xác lập lại những giá trị căn bản của giáo dục, đồng bộ hoá những yếu tố hiện đại, tạo nền tảng để phát triển nhanh hơn ở giai đoạn sau. 2011- 2020 là giai đoạn phát triển nhanh, nâng cao chất lượng và quốc tế hoá từng bước giáo dục Việt Nam.
Sứ mạng giáo dục thiêng liêng như vậy đang đặt trên vai các thầy cô giáo. Các thầy cô giáo không làm tốt tấm gương về đạo đức thì không thể tái tạo lại được đạo đức dân tộc. Đa số các thầy cô giáo thấy được trách nhiệm và vị trí thiêng liêng của giáo dục nên chúng ta phải tự hào, tiếp tục động viên nhau, trong ngành chăm sóc đời sống giáo viên tốt hơn (đặc biệt là giáo viên vùng sâu, vùng xa) để làm tốt sứ mạng của ngành. Còn nếu một số ít thầy cô thấy đòi hỏi ấy khắc khe quá, tự thấy không phù hợp thì có thể chuyển sang ngành khác, vẫn có thể đóng góp cho xã hội nhưng không phải ở vị trí thầy cô giáo. Như vậy sẽ giảm được đáng kể vi phạm đạo đức trong ngành. Tôi tin rằng với truyền thống người Việt Nam, nếu chúng ta trao đổi kỹ từ các cơ sở giáo dục thì cũng sớm khắc phục được vi phạm đạo đức nhà giáo.
Những việc chúng ta đang làm có sự đổi mới, song đều gắn với thực tiễn hiện tại. Chúng ta cần phải nhắc lại, phải trao đổi trong ngành và trong xã hội về vị trí thiêng liêng của giáo dục, vị trí thiêng liêng của thầy cô giáo. Ngành giáo dục là ngành quan trọng nhất để tái tạo con người Việt Nam về mặt văn hoá, lịch sử, nhân cách. Quá trình giáo dục là quá trình tái tạo dân tộc, không có giáo dục thì không có con người Việt Nam, không hiểu văn hoá, lịch sử thì sẽ không có lòng tự hào Việt Nam. Đó là hành trang, chỗ dựa để hội nhập. Mặt  khác, giáo dục cũng là môi trường quan trọng nhất để chuẩn bị cho khả năng đổi mới của mỗi con người và của quốc gia.”
2. Phụ lục 2: Các vị Bộ trưởng phụ trách lĩnh vực giáo dục từ 2-9 -1945 đến nay
1. Bộ trưởng Vũ Đình Hòe
Ông sinh ngày 1-6-1912 tại Thanh Oai, Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội); là Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục từ tháng 9-1945 đến tháng 2-1946, sau đó chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp. [22]
2. Bộ trưởng Đặng Thai Mai
Ông sinh ngày 25-12-1902 tại Lương Điền (nay là Thanh Xuân), Thanh Chương, Nghệ An; là Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục từ tháng 2-1946 đến tháng 8-1946, sau đó chuyển về làm Chủ tịch tỉnh Thanh Hóa. Ông mất ngày 25-9-1984, an táng tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. [22]
3. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên
Ông sinh ngày 16-11-1908 tại Hà Nội; là Bộ trưởng Bộ Giáo dục từ tháng 11-1946 đến tháng 10 năm 1975. Ông mất ngày 19-10-1975, an táng tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. [22]
4. Bộ trưởng Tạ Quang Bửu
Ông sinh ngày 23-7-1910 tại Nam Hoành, Nam Đàn, Nghệ An; là Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp từ 1965 đến 1976. Ông mất ngày 21-8-1986, an táng tại nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. [22]
5. Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình
Bà sinh ngày 26-5-1927 tại Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp, nguyên quán thuộc Quảng Nam. Bà là cháu ngoại cụ Phan Chu Trinh, làm Bộ trưởng Giáo dục từ 1976 đến 1987. Từ năm 1992 đến 2003, bà là Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam. [22]
6. Bộ trưởng Nguyễn Đình Tứ
Ông sinh ngày 1-10-1932 tại Song Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh; là Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp từ  1976 đến 1987. Sau đó làm Bí thư Trung ương Đảng, [22] được Đại hội Đảng IX bầu vào Bộ Chính trị.
7. Bộ trưởng Phạm Minh Hạc
Ông sinh ngày 23-10-1935 tại Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội, là Bộ trưởng Bộ Giáo dục từ tháng 2-1987 đến tháng 2-1990. Khi Bộ Giáo dục cùng với Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề hợp nhất thành Bộ Giáo dục và Đào tạo ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng thứ nhất. [21] Năm 1997, ông về làm Phó trưởng ban thứ nhất Ban Khoa giáo Trung ương Đảng.
8. Bộ trưởng Trần Hồng Quân
Ông sinh ngày 15-2-1937 tại Mỹ Quới, Thạnh Trị, Sóc Trăng, là Bộ trưởng Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề từ tháng 2-1987 đến tháng 2-1990. Khi Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề cùng với Bộ Giáo dục hợp nhất thành Bộ Giáo dục và Đào tạo ông được bổ nhiệm Bộ trưởng. [21] Năm 1997, ông về làm Phó trưởng ban Ban Dân vận Trung ương Đảng.
9. Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển
Ông sinh ngày 1-2-1948, tại Kiến Xương, Thái Bình, là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo từ 1997 đến giữa năm 2006.  Sau đó ông chuyển về làm Uỷ viên thường trực Hội đồng giáo dục quốc gia.
10. Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân
Ông sinh ngày 12-6-1953 tại Cà Mau; là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo từ 28-6-2006. Ngày 2-8-2007, ông được Quốc hội thông qua đề cử giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. [23]

[1]   Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
[2]   Nguyễn Tiến Cường, Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, NXB Giáo dục 1998
[3]   tudienbachkhoa.gov.vn
[4]  Lịch sử giáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng 8 - 1945; Nguyễn Đăng Tiến, Nguyễn Tiến Doãn, Hồ Thị Hồng, Hoàng Mạnh Kha - NXB Giáo dục 1996
[5]   Bộ Giáo dục và Đào tạo, 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo Việt Nam (1945-1995), NXB Giáo dục,
[6]   Nguyên Ngọc, Từ Duy Tân Quảng Nam đến Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội, (trong tập bút ký Bằng đôi chân trần, NXB Văn nghệ)
[7]   Ban Khoa Giáo Trung ương, Một số văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác khoa giáo NXB Chính trị quốc gia (Tập về giáo dục- đào tạo)
[9]   Nguyễn Quang Kính, Nguyễn Quốc Chí, Education in Vietnam: Development History, Challenges, and Solutions, (Chapter 4, An African Exploration of East Asian Education Experience, the World Bank)
[10]  Dự thảo báo cáo tình hình thực hiện giai đoạn I (2001-2005) chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Viện CLCTGD, Bộ GDĐT
[11]  Phạm Đỗ Nhật Tiến, Giáo dục Việt Nam: vị trí trên bản đồ giáo dục thế giới và xu thế vận động, báo cáo tại Hội thảo Giáo dục Việt Nam: Thực trạng - So sánh với các nước ASEAN và Đông á (Hà Nội, 30-31/10/2007) trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu B1-2 TMKHXH
[12] Luật giáo dục 2005, NXB Chính trị quốc gia
[13] Bộ GD-ĐT, Báo cáo Tổng kết năm học 2007-2008, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2008-2009 (Phụ lục 1)
[14] Bộ GD-ĐT, Chương trình giáo dục phổ thông, NXB Giáo dục
[15] Chính phủ CHXHCN Việt Nam, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010
[16] Báo cáo tổng kết Đề tài nghiên cứu B1-2 TMKHXH “Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ” do Quỹ Hòa Bình và Phát triển Việt Nam chủ trì
[17] Chính phủ CHXHCN Việt Nam, Đề án đổi mới giáo dục đại học
[18] Việt Nam quản lý chi tiêu công để tăng trưởng và giảm nghèo - Báo cáo chung của Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng thế giới với sự hỗ trợ của nhóm các nhà tài trợ cùng mục đích (Tập 1: Các vấn đề chuyên ngành; Tập 2: Các vấn đề chuyên ngành) - Nhà xuất bản Tài chính
[19] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thống kê giáo dục và đào tạo các năm học,
[20] Viện Khoa học giáo dục, Dự thảo Báo cáo tình hình thực hiện giai đoạn I (2001- 2005) chiến lược phát triển giáo dục (2001-2010)
[21] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006-2015
[22] Thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết trung ương 2 (khóa 8), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020.

Nguồn: Dự án Srem
Nhóm biên soạn:
1.      ThS. Huỳnh Thị Mai Phương
2.      ThS. Vũ Văn Hùng
3.      Ông Nguyễn Quang Kính
4.      TS. Andrea Gallina
5.      ThS. Eberhard Kobler
6.      ThS. Trần Phước Lĩnh
Biên dịchNguyễn Tiến Cương
Chủ trì biên soạn và hiệu đínhThS. Nguyễn Thị Thái
Còn nữa 
Tải file tài liệu này tại đây


Ad: Máy trợ giảng tốt - đẹp - rẻ - Ad: Máy khuếch đại âm

No comments:

Post a Comment

Lưu ý: Hãy sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt một cách trong sáng khi trao đổi thông tin!
Cám ơn bạn đã phản hồi!